Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin Tức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin Tức. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2015

BỆNH TIỂU ĐƯỜNG CÓ NGUY HIỂM KHÔNG?

Với những người mới bị mắc thường có tâm lý bất an, lo lắng và sợ khi biết mình mắc bệnh. Các câu hỏi thường đặt ra trong đầu như: Bệnh tiểu đường có nguy hiểm không? Liệu có bị chết không? Có bị lây không? Có nên sinh con không?… Các bạn hãy bình tĩnh và đọc bài viết sau đây.

Như chúng ta đều biết, đái tháo đường được xếp vào diện nan y trên thế giới. Bệnh tiểu đường và những biến chứng cùng phát sinh từ lâu đã trở thành một trong những mối đe dọa đáng sợ nhất với tỷ lệ tàn phế và tử vong khá cao. Vì vậy, phát hiện thật sớm bệnh tiểu đường, tích cực kiểm soát hàm lượng đường cao trong máu có ảnh hưởng rất quan trọng đối với tương lai của bệnh.

Bệnh tiểu đường có nguy hiểm không?
Mức độ nguy hại của bệnh tiểu đường đối với cơ thể con người chính là do nó có thể dẫn đến một số biến chứng cùng phát sinh khác. Các biến chứng này thường làm cho người bệnh bị tàn phế, mất khả năng lao động và tử vong.
Trong số bệnh nhân tiểu đường, thì 70-80% người bị chết do biến chứng tim mạch và các triệu chứng kèm theo. Số người tiểu đường mắc tim mạch và tử vong cao gấp 2-3 lần người bình thường, nữ bệnh tiểu đường thường mắc tim mạch khá sớm và phát triển tương đối nhanh. Trong số bệnh nhân tiểu đường dạng phụ thuộc insulin có đến 50-80% chết do nhiễm độc ure, còn tỷ lệ mù lòa do tiểu đường cao hơn người thường từ 10-23 lần, tủy lệ hoại thư phải cắt cụt tay chân, cao hơn người thường 20 lần. Tỉ lệ người tử vong có nguyên nhân từ bệnh tiểu đường đứng hàng đầu chỉ thấp hơn bệnh tim mạch, mạch máu não và ung thư.
Với những người bị tiểu đường kèm theo huyết áp thì các biến chứng về tim mạch và thận diễn biến càng nhanh nếu không biết cách kiểm soát trị số đường huyết và huyết áp ở mức độ chuẩn. Do đó, việc kiểm tra thường xuyên là hết sức quan trọng. Người bệnh cần có ý thức về sức khỏe của mình. Đo huyết áp bằng may do huyet ap dien tu bap tay ( không dùng loại cổ tay) và may thu tieu duong thường xuyên.
Vì lý do đó, hãy quan tâm ngay khi có các dấu hiệu nguy cơ bệnh tiểu đường?
– Tự nhiên thấy sút cân mà không rõ nguyên nhân, đặc biệt là người bình thường béo khỏe, chế độ ăn uống không có gì thay đổi nhưng trọng lượng liên tục giảm sút.
– Trong lịch sử gia đình hiện đang có người mắc bệnh tiểu đường ở độ tuổi 40 trở lên.
– Không rõ miệng thường xuyên khát nước và đi tiểu nhiều hơn.
– Đẻ con quá to (con nặng trên 4kg)
– Có các chứng bệnh về chửa đẻ, ví dụ nhiều lần sẩy thai, ngộ độc khi mang thai, nước ối quá nhiều, thai chết lưu trong tử cung…
– Có phản ứng hạ đường huyết
– Trên cơ thể có những vết lở loét mãi không lành.
– Cơ thể béo phì
– Người trên 50 tuổi
Tóm lại, bạn nên định kỳ đến kiểm tra đường huyết (bằng máy đo đường huyết cá nhân hoặc kiểm tra tại bệnh viện), đó là cách tốt nhất để phát hiện sớm bệnh tiểu đường.
Bệnh tiểu đường có chữa được không?
Bệnh tiểu đường không phải hoàn toàn không thể chữa trị được, tuy nhiên người bệnh cần kiên trì chữa trị. Nhất là bệnh tiểu đường dạng phụ thuộc insulin thì phải kiên trì vận dụng cách thay thế insulin để chữa trị, còn bệnh tiểu đường dạng không phụ thuộc insulin thì bệnh tình có thể khống chế một cách nhanh chóng, duy trì đời sống và công việc như người bình thường.

Điều trị đái tháo đường không dùng thuốc


Nếu đái tháo đường không được kiểm soát một cách hợp lý thì sẽ tạo điều kiện cho các triệu chứng trở nặng hơn và đồng thời từ đó xuất hiện các biến chứng gây nguy hiểm đến cuộc sống hàng ngày cũng như tính mạng của con người. 

Chế độ ăn uống cho người đái tháo đường

Chế độ ăn uống khoa học hợp lý là nền tảng cho kế hoạch điều trị tiểu đường. Chế độ ăn hợp lý giúp cho bệnh nhân ổn định mức đường trong máu, giảm được liều thuốc cần sử dụng, ngăn chặn hoặc làm chậm xuất hiện các biến chứng, kéo dài tuổi thọ bệnh nhân. Chế độ ăn hợp lý còn giúp bệnh nhân cảm thấy thoải mái, tự tin trong cuộc sống, ít có cảm giác bị tách biệt trong đời sống xã hội.
Hạn chế ăn glucid để tránh tăng đường huyết, giảm các thức ăn có chứa axit béo bão hoà (axit béo no) dễ gây vữa xơ động mạch. Tỷ lệ lipid không quá 30% tổng số calo, trong đó axit béo no khoảng 5-10%. Ăn nhiều rau và các loại trái cây có vỏ (vỏ trái cây, gạo…) có nhiều xơ, vì chất xơ khi ăn vào sẽ hạn chế hấp thu đường kích thích hoạt động của ruột và giúp tiêu hoá các thức ăn khác, mặt khác còn bổ xung thêm các loại vitamin cần thiết cho cơ thể, chống táo bón, giảm triglycerid, cholesterol sau ăn. Khi ăn nhiều thức ăn có chứa chất xơ nên uống nhiều nước ít nhất 1,5-2 lít nước một ngày. Nên ăn vừa phải protid, nếu ăn quá nhiều sẽ có tác dụng xấu và ảnh hưởng tới sự tiến triển của bệnh thân nhất là những bệnh nhân có suy thân. Lượng protit cần thiết ăn 0,7 – 0,8g/kg/ngày. Khi bệnh nhân đái tháo đường có hội chứng thận hư kết hợp (lượng protid thải mất khá nhiều qua đường thân nên lượng protit cho ăn vào phải tăng hơn để bù vào lượng bị mất đi, có thể cho khoảng 4- 6g/kg/ngày.Tỷ lệ các thức ăn tính theo số calo cung cấp do mỗi loại trong tổng số calo hàng ngày:
  • Glucid 60 – 70%.
  • Protide 10 – 20%.
  • Lipid 15 – 20%.
707458 Điều trị đái tháo đường không dùng thuốc
Ăn thức ăn chứa nhiều glucid và chất xơ.
Nên chia nhỏ các bữa ăn trong ngày 4-6 bữa/ngày, không nên ăn quá nhiều trong một bữa. Nên ăn thêm bữa tối để tránh hạ đường huyết ban đêm, nhất là ở những bệnh nhân đang điều trị bằng insulin. Không nên uống rượu bia bởi vì rượu bia có thể ức chế tân tạo đường do đó dễ dẫn đến hạ đường huyết, nhất là khi bệnh nhân ăn ít hoặc không ăn. Ăn nhạt khi có tăng huyết áp, chỉ nên ăn 2- 3g muối/ngày. Nên ăn đúng bữa có thể ăn thêm 1 – 2 bữa phụ

Thường xuyên tập luyện thể dục, thể thao rèn luyện cơ thể

Không chỉ có ăn uống mới ảnh hưởng đến việc kiểm soát đường huyết. việc vận động cơ thể hàng ngày cũng rất quan trọng. Thể dục liệu pháp là một trong những biện pháp điều trị hỗ trợ đối với bệnh nhân đái tháo đường; làm giảm cân nặng, nên luyện tập thường xuyên hàng ngày với các động tác nhẹ nhàng như đi bộ, tập bơi, tập dưỡng sinh, đạp xe… nên tập nhẹ nhàng vừa phải, không nên tập quá sức. Thể dục liệu pháp có thể làm giảm được mỡ máu, hạn chế tăng huyết áp, cải thiện được tình trạng tim mạch và có tác dụng hỗ trợ cho việc ổn định đường máu.
707459 Điều trị đái tháo đường không dùng thuốc
Đi bộ là một liệu pháp vận động nhẹ nhàng và dễ thực hiện.
Cần căn cứ vào tình hình bệnh tât, sức khỏe, giới tính để lựa chọn những phương pháp thích hợp. ngoài ra cũng cần phải chú ý đến những thói quen sinh hoạt từ trước đấy để lựa chọn các phương pháp phù hợp. Nên lựa chọn các phương pháp mà bản thân thích, an toàn và có thể tập lâu dài như: đi bộ, tập thể dục, chạy chậm, thái cực quyền…những môn thể thao mang tính chất đòi hỏi nhiều sức như đẩy tạ, điền kinh…sẽ không có tác dụng tốt nên cần tránh. Khi vận động nhiều nên đề phòng hạ đường huyết. Không nên vận động khi đường huyết quá cao.

Thuốc nào bệnh nhân đái tháo đường không nên dùng

Bệnh nhân bị đái tháo đường tuyệt đối không được dùng thuốc mà không theo chỉ định của bác sĩ. Vì sử dụng các loại thuốc không kê toa vô cùng nguy hiểm đối với những người đang bị tiểu đường.

Sau đây là những loại thuốc không kê toa phổ biến mà bệnh nhân đái tháo đường cần lưu ý:

Thuốc giảm sung huyết (decongestants):

Những loại thuốc này có tác dụng giúp giảm sung huyết mũi. Đối với bệnh nhân đái tháo đường khi sử dụng thuốc này cần phải có sự giám sát của bác sĩ. Vì loại thuốc này sẽ làm giảm hoặc mất tác dụng của insulin hoặc các thuốc điều trị bệnh đái tháo đường dùng đường uống. Đặc biệt, thuốc giảm sung huyết cũng làm tăng đường huyết một cách vô cùng nguy hiểm.
benh-nhan-dai-thao-duong-can-tranh-nhung-thuoc-gay-hai
Bệnh nhân đái tháo đường cần tránh các loại thuốc có hại.

Viên ngậm trị ho, đau cổ họng:

Vì những loại thuốc này có chứa đường, nên khi sử dụng bệnh nhân đái tháo đường cần hỏi dược sĩ để chọn những chế phẩm khác không có đường.

Thuốc trị táo bón:

Thỉnh thoảng dùng trong liều đề nghị thì tương đối an toàn. Tuy nhiên, nếu bạn sử dụng quá thường xuyên hoặc lạm dụng sẽ dẫn đến bị lệ thuộc thuốc. Khi uống thuốc cần phải uống nhiều nước, phải gặp bác sĩ nếu tình trạng táo bón vẫn kéo dài, không tự ý dùng thuốc trị táo bón dài hạn.

Thuốc giảm đau và thuốc hạ sốt:

Thường thì khi sử dụng thuốc chỉ tác động nhẹ lên hàm lượng đường huyết, nhưng đối với những bệnh nhân đái tháo đường với biến chứng ở thận thì cần phải có sự chỉ định của bác sĩ trước khi dùng paracetamol hoặc ibuprofen. Nếu dùng những thuốc này thường xuyên hoặc dùng liều cao thì không những gây độc cho thận mà còn gây độc cho gan.

Thuốc kháng dị ứng:

Sau khi sử dụng thuốc kháng dị ứng nếu người sử dụng cảm thấy buồn ngủ, xây xẩm thì cần phải lưu ý với bác sĩ.

Thứ Bảy, 22 tháng 11, 2014

Bài thuốc điều trị chữa bệnh từ trái cam

Nếu muốn những mụn trứng cá ở mặt biến mất, bạn hãy lấy hạt cam rang khô, nghiền thành bột.

Mỗi buổi tối, trước khi đi ngủ, lấy một ít bột pha với nước sôi rồi bôi vào chỗ bị mụn. Thuốc có công năng thanh nhiệt, hộ da. 

Bài thuocs điều trị, chữa bệnh từ trái cam
trái cam tươi
Sau đây là một số bài thuốc khác từ cam:
- Chữa tắc sữa, sưng đau đầu vú: Nước cam nửa cốc, rượu 25 g hòa với nhau để uống, ngày 1-2 lần. Thuốc này có công năng thông sữa và tiêu thũng.
- Chữa viêm họng cấp tính, mất tiếng hoặc khàn giọng: Cam 2 quả, để cả vỏ, thái thành miếng, ép lấy nước, uống từ từ mỗi ngày 3 lần.
- Chữa tổn thương tân dịch do nhiệt bệnh, miệng khô, lưỡi táo: Cam 2 quả, bỏ vỏ, ăn mỗi ngày 2-3 lần, có công năng thanh nhiệt, sinh tân.
- Chữa say rượu, tiêu hóa kém: Nước cam nửa cốc uống sau bữa ăn, có công năng tỉnh rượu, tiêu thực.
- Chữa chướng bụng, đau sườn do khí trệ: Vỏ cam 10 g, gừng tươi 10 g, nấu lấy nước uống mỗi ngày 2 lần.
- Chữa xuất huyết dưới da (có các nốt lấm chấm như mũi kim): Vỏ cam lượng vừa đủ, rửa sạch, pha uống như nước trà.
- Chữa đau buốt thắt lưng: Hạt quả cam đem rang khô, nghiền thành bột, mỗi lần uống 10 g với một chút rượu, ngày 2 lần.

20 bài thuốc hay chữa khỏi bệnh đau lưng

Ðau lưng là một bệnh rất hay gặp ở độ tuổi trung và cao niên. Bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra và thường được chia làm hai loại: Ðau lưng cấp tính và đau lưng mãn tính.

nguyên nhân triệu chứng cách điều trị chữa khỏi bệnh đau lưng
Bài viết dưới đây xin giới thiệu một số bài thuốc đơn giản, dễ tìm có thể chữa được bệnh đau lưng mãn tính.
Bài 1: Lá ngải cứu tươi xào nóng với dấm, bọc trong túi vải đắp, chườm vào thắt lưng hay chỗ đau.
Bài 2: Bã dấm 250g, xào nóng, bọc trong túi vải, đắp vào chỗ đau trước khi đi ngủ 1-2 giờ.
Bài 3: Dây mướp tươi 2m, thái lát mỏng. Sắc uống 2-3 lần trong ngày.
Bài 4: Rễ cây mướp và dây mướp già ở gần gốc đem đốt thành tro hoặc sao, đến khi có màu vàng già thì xay nhỏ thành bột. Ngâm uống 2 lần, mỗi lần 6g, chiêu thuốc bằng rượu.
Bài 5: Cẩu tích (rễ cây lông cu-li) 30g, sắc uống ngày 1 thang. Bài thuốc này chủ trị đau lưng do hàn thấp.
Xem chi tiết thông tin bài thuốc nam bao gồm: Bài thuốc uống và Cao Dán chữa bệnh đau lưng hiệu quả!
Bài 6: Hạt mướp tươi 60g, giã nát, đắp vào huyệt mệnh môn (nằm ở giữa 2 gai đốt sống thắt lưng 3 và 4). Mỗi ngày thay thuốc 1 lần.
Bài 7: Hạt cam sao vàng, xay nhỏ thành bột mịn. Ngày uống 10g, chia 2 lần, chiêu thuốc bằng rượu nhẹ. Bài thuốc này chủ trị đau lưng do chấn thương gây ứ huyết bên trong.
Bài 8: Hạt hẹ 12g, vỏ vừng 15g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần trong ngày.
Bài 9: Rễ cà 20g, gừng khô 6g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần trong ngày.
Bài 10: Vỏ quả bí ngô già 60g, rễ cây bông 60g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần uống trong ngày.
Bài 11: Vỏ quả bí ngô già 60g, hương nhu 15g, đường đỏ 30g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần uống trong ngày.
Bài 12: Ðậu đỏ nhỏ 30g, xơ mướp 12g, củ hành ta 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần uống trong ngày.
Bài 13: Hạt bí ngô 40g, đậu đỏ nhỏ 30g, lá cây lạc 20g, gừng khô 3g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.
Bài 14: Hạt bông 40g, hành củ 20g, lá tía tô 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.
Bài 15: Lá ớt cay 50g, rượu vừa đủ. Lá ớt rửa sạch, giã nát, xào nóng rồi cho thêm chút rượu, bọc trong túi vải đắp vào chỗ đau khi thuốc còn nóng. Mỗi ngày thay thuốc 1 lần. Khi thuốc nguội có thể xào lại 1-2 lần.
Bài 16: Trà xanh 1g, bột vừng chín 5g, đổ vào nửa lít nước sôi, khuấy đều, chia 3 lần uống trong ngày. Mỗi ngày uống 1 thang.
Bài 17: Rễ cây lau 30g, vỏ quả bí ngô già 30g, nhân trần 15g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.
Bài 18: Bổ cốt toái 30g, đem sấy khô rồi xay thành bột. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 3g. Chiêu thuốc bằng rượu hoặc sắc nước uống.
Bài 19: Rễ hẹ 100g, dấm chua 50ml. Rễ hẹ rửa sạch, giã nát, thêm dấm rồi bọc trong túi vải đắp vào chỗ đau, mỗi ngày thay thuốc 1 lần.
Bài 20: Gừng sống 20g, hành củ 15g, bột mì 30g. Ðem gừng và hành giã nát rồi cho bột mì vào. Xào nóng, sau đó đắp vào chỗ đau, dùng băng vải cố định lại. Mỗi ngày thay thuốc 1 lần
Chúc bạn và gia đình luôn khỏe mạnh !

Thứ Năm, 20 tháng 11, 2014

Kinh nghiệm dân gian dùng lá lốt chữa "bệnh nhà giàu"

Gần đây một số người mắc bệnh gút (gout) đã truyền nhau kinh nghiệm ăn các món có lá lốt để điều trị căn bệnh vốn được cho là “bệnh của nhà giàu”.



Cây lá lốt (tên khoa học là Piper lolot C. DC) thuộc họ Hồ tiêu (Piperaceae) là một loại cây thảo sống dai thường mọc nơi ẩm ướt ở trung du, miền núi có chiều cao 30 – 40cm, mọc bò, thân cành có phủ ít lông và phồng lên ở các mấu.
Lá đơn nguyên mọc so le, hình tim, rộng, nhẵn, mép uốn lượn, đáy hình tim, đầu lá thuôn nhọn, gân lá chằng chịt hình mạng lưới, cuống lá có bẹ ở gốc. Cụm hoa là một bông đơn độc ở kẽ lá. Quả mọng chứa một hạt. Cây ra hoa, có quả vào mùa thu, từ tháng 8 đến 10. Rễ, thân làm vị thuốc, lá dùng như một loại rau ăn hoặc làm thuốc. Theo kết quả nghiên cứu hiện đại, lá lốt có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm và giảm đau khá tốt.
Theo Đông y, lá lốt có vị nồng, hơi cay, tính ấm, công dụng ôn trung (làm ấm bụng); tán hàn (trừ lạnh); hạ khí (đưa khí đi xuống); chỉ thống (giảm đau); yêu cước thống (đau lưng, đau chân), tỵ uyên (mũi chảy nước tanh thối kéo dài), trị nôn mửa, đầy hơi, khó tiêu...
Kinh nghiệm dân gian thường dùng lá lốt đơn lẻ hoặc phối hợp với một số vị thuốc khác như rễ cỏ xước, lá xương sông, rễ bưởi bung... sắc lấy nước uống hoặc ngâm tay chân để chữa các chứng đau nhức xương khớp, đau vùng ngực và bụng do lạnh; chứng ra nhiều mồ hôi tay, chân; mụn nhọt, đau đầu, đau răng…
Lá lốt có thể dùng tươi, phơi hay sấy khô, mỗi người chỉ nên ăn từ 50 – 100g lá lốt mỗi ngày. Gần đây một số người mắc bệnh gút (gout) đã truyền nhau kinh nghiệm ăn các món có lá lốt để điều trị căn bệnh vốn được cho là “bệnh của nhà giàu”.
Lá lốt có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm và giảm đau... Sau đây là một số tác dụng của cây lốt.
- Chữa đau nhức xương, khớp khi trời lạnh: 5-10g lá lốt phơi khô (15-30g lá tươi), sắc 2 bát nước còn ½ bát, uống trong ngày. Uống khi thuốc còn ấm, nên uống sau bữa ăn tối. Mỗi liệu trình điều trị 10 ngày hoặc lá lốt và rễ các cây bưởi bung, vòi voi, cỏ xước (mỗi vị 30g), tất cả đều dùng tươi thái mỏng, sao vàng, sắc với 600ml nước, còn 200ml chia 3 lần uống trong ngày. Uống liên tục trong 7 ngày.
- Chữa đau bụng do nhiễm lạnh: Lá lốt tươi 20g, rửa sạch, đun với 300ml nước còn 100ml. Uống trong ngày khi thuốc còn ấm, nên uống trước bữa ăn tối. Dùng liên tục trong 2 ngày.
- Chữa chứng ra nhiều mồ hôi ở tay, chân: Lá lốt tươi 30g, rửa sạch, để ráo cho vào 1 lít nước đun sôi khoảng 3 phút, khi sôi cho thêm ít muối, để ấm dùng ngâm hai bàn tay, hai bàn chân thường xuyên trước khi đi ngủ tối. Thực hiện liên tục trong 5-7 ngày. Hoặc lá lốt 30g, thái nhỏ, sao vàng hạ thổ. Sắc với 3 bát nước còn 1 bát. Chia 2 lần, uống trong ngày. Uống trong 7 ngày liền. Sau khi ngừng uống thuốc 4 đến 5 ngày lại tiếp tục uống một tuần nữa.
- Chữa bệnh tổ đỉa ở bàn tay: 30g lá lốt tươi, rửa sạch, giã nát, vắt lấy 1 bát nước đặc, uống trong ngày. Còn bã cho vào nồi đun với 3 bát nước, đun sôi khoảng 5 phút rồi vớt bã để riêng. Nước dùng để rửa nơi có tổ đỉa, sau đó lau khô lấy bã đắp lên, băng lại. Ngày làm 1-2 lần, liên tục trong 5-7 ngày.
- Chữa phù thũng do suy thận: Lá lốt 20g, cà gai leo, rễ mỏ quạ, rễ tầm gai, lá đa lông, mã đề mỗi vị 10g. Sắc với 500ml nước còn 150ml, uống trong ngày. Uống sau bữa ăn trưa khi thuốc còn ấm. Dùng trong 3-5 ngày.
-Chữa mụn nhọt vỡ mủ lâu ngày không liền miệng: Lá lốt, lá chanh, lá ráy, tía tô, mỗi vị 15g. Cách làm: Trước tiên lấy lớp vỏ trong của cây chanh (bỏ vỏ ngoài) phơi khô, giã nhỏ, rây bột mịn rắc vào vết thương, sau đó các dược liệu trên rửa sạch, giã nhỏ đắp vào nơi có mụn nhọt rồi băng lại. Ngày đắp 1 lần. Đắp trong 3 ngày.
- Chữa đầu gối sưng đau: Lá lốt, ngải cứu mỗi vị 20g (tất cả dùng tươi), rửa sạch, giã nát, thêm giấm chưng nóng, đắp, chườm nơi đầu gối sưng đau. Mỗi liệu trình điều trị 10 ngày. Hoặc lá lốt và rễ các cây bưởi bung, vòi voi, cỏ xước, mỗi vị 30g, tất cả đều dùng tươi thái mỏng, sao vàng, sắc với 600ml nước, còn 200ml chia 3 lần uống trong ngày. Uống liên tục trong 7 ngày.
Đặc biệt, món canh lá lốt nấu với thịt, cá là món ăn bổ dưỡng, giúp người già chống đỡ được một số bệnh tật, nhất là làm giảm đau nhức xương, khớp nhất là trong lúc giao mùa, từ mùa hại chuyển sang mùa thu.

Thứ Hai, 17 tháng 11, 2014

Bài thuốc chữa đau đầu bằng rau cải cúc

Đau đầu kinh niên là căn bệnh khiến nhiều người khó chịu, mệt mỏi. Rau cải cúc là một bài thuốc dân gian trị hiệu nghiệm chứng bệnh đau đầu khó chịu này.

Những đặc tính của rau cải cúc
Rau cải cúc là loại rau dễ mọc và nấu cũng nhanh,thường thì chúng ta dùng để ăn lẩu vì đặc tính của rau cải cúc là nhanh chín và ăn như thế sẽ ngọt và giữ được chất dinh dưỡng nên cũng là một loại rau được ưa chuộng với đa số.
Rau cải cúc, bài thuốc chữa đau đầu bằng cải cúc
Rau cải cúc là bài thuốc dân gian trị đau đầu kinh niên hiệu quả.
Rau cải cúc còn được gọi là cải tần ô, rau cúc, rau tần ô… Là cây thảo sống hằng năm, lá ôm vào thân, xẻ lông chim hai lần. Cụm hoa ở nách lá, các hoa ở mép màu vàng sẫm, thơm. Mùa hoa vào tháng 1 – 3.  Rau cải cúc giàu dinh dưỡng như chứa 1,85% protid 2,57% glucid, 0,43% lipid và còn có nhiều vitamin A, B, C…
Theo quan niệm Đông y, cải cúc có vị ngọt nhạt, hơi đắng, the, mùi thơm, tính mát, được xem như một loại rau giúp khai vị làm ăn ngon, giúp tiêu hoá, trừ đờm, tán phong nhiệt. Dùng lá tươi, hoặc đã phơi khô trong mát (âm can) không phơi nắng (làm mất tinh dầu thơm).
Cách sử dụng rau cải cúc điều trị bệnh đau đầu kinh niên
Lấy một ít cải cúc đem nấu lấy nước, mỗi ngày dùng độ 30g nước đã nấu này. Bên ngoài thì dùng lá cải cúc hơ nóng chườm đắp lên đỉnh đầu và hai bên thái dương vào buổi tối trước khi đi ngủ (hoặc mỗi khi thấy nhức đầu).
Nếu bạn đau đầu không đúng mùa cải cúc cũng đừng lo lắng, chỉ cần chịu khó phơi khô cải cúc dùng dần là được. Lưu ý, khi phơi rau cải cúc thì nhớ phải chọn các cây già già một chút, tốt hơn hết là giữ cả phần rễ cây. Những cây cải cúc già có hoa thì lại càng quý vì khi phơi rau cải cúc sẽ để được rất lâu.
Trị đau đầu cho bà bầu
Canh rau cải cúc chữa đau đầu
Rau cải cúc là thực phẩm an toàn giúp bà bầu chữa đau đầu.
Dùng một nắm lá cải cúc hơ nóng đắp lên hai bên thái dương và đỉnh đầu vào buổi tối trước khi đi ngủ hoặc khi bị nhức đầu.
Hay một cách khác: Lá cải cúc rửa sạch cho vào máy xay lấy 10-15 gam nước lá cải cúc đã sắc uống nóng chứng đau đầu của bạn sẽ thuyên giảm. Tiếp đó nếu thấy không thuyên giảm thì uống liền những ngày tiếp theo hoặc đắp lá cải cúc mỗi khi rảnh rỗi. Chỉ khoảng một tuần sau đau đầu sẽ chấm dứt…

Nguyên nhân phụ nữ sống lâu hơn đàn ông

Dù có được đặt biệt danh là phái mạnh nhưng đàn ông lại không sống lâu bằng phụ nữ. Lý do là gì và tại sao phụ nữ sống lâu hơn đàn ông, chúng ta hãy cùng tìm hiểu những nguyên nhân dưới đây.

“Kể từ khi thụ thai đến khi chết đi, đàn ông luôn chịu nhiều thiệt thòi về mặt sinh học lẫn xã hội hơn so với phụ nữ”.
Theo nhận định của Giáo sư Marianne Legato tại Trường ĐH Columbia (Mỹ), “kể từ khi thụ thai đến khi chết đi, đàn ông luôn chịu nhiều thiệt thòi về mặt sinh học lẫn xã hội hơn so với phụ nữ”.
Bé gái giỏi chịu đựng hơn khi ở trong tử cung
Bào thai giới tính nam dễ bị lây nhiễm bệnh tật hoặc mắc các vấn đề khác trong tử cung hơn bào thai nữ. “Các bé trai cũng chậm phát triển thể chất hơn so với các bé gái trước khi sinh, nghĩa là chúng có nhiều khả năng tử vong nếu sinh thiếu tháng do phổi hoặc não chưa phát triển toàn diện”.
Phụ nữ ít bị tai nạn hơn nam giới
Chấn thương không chủ ý là nguyên nhân thứ ba hàng đầu gây tử vong ở nam giới, theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa bệnh tật của Mỹ (CDC), trong khi đối với phụ nữ, nguyên nhân tử vong này chỉ xếp thứ sáu. Nguyên nhân của sự việc này là do thùy trán liên quan đến việc chịu trách nhiệm, tính toán rủi ro của nam giới phát triển chậm hơn rất nhiều so với nữ giới.
Do vậy, những rủi ro như tai nạn thường đến với nam giới nhiều hơn nữ giới. “Gần như chắc chắn, một người đàn ông sẽ chấp nhận rủi ro mà một người phụ nữ cùng độ tuổi với anh ta sẽ không có”, tiến sĩ Legato nói.
đàn ông hiếu động
Đàn ông dễ bị chấn thương không chủ ý hơn phụ nữ do tính hiếu động.
Phụ nữ ít nguy cơ mắc bệnh tim
Bệnh tim là kẻ giết người hàng đầu của cả hai giới. Tuy nhiên, nam giới thường có tỉ lệ mắc phải và tử vong khá cao, sớm nhất trong độ tuổi 30 và 40. Ở phụ nữ, bệnh tim mạch thường phát triển sau nam giới 10 năm và họ được bảo vệ khỏi các bệnh đó cho đến khi mãn kinh
Phụ nữ có mối quan hệ xã hội rộng hơn
Những ai thường xuyên gắn kết với mọi người có cơ hội giảm 50% khả năng tử vong so với những người có ít mối quan hệ xã hội, theo một nghiên cứu năm 2010 tại Trường ĐH Brigham Young (Mỹ).
Phụ nữ sống lâu hơn nam giới
Phụ nữ có mối quan hệ xã hội rộng hơn.
“Hầu hết những người đàn ông có xu hướng giữ căng thẳng và lo lắng trong lòng, trong khi phụ nữ có xu hướng dễ tiếp cận và chia sẻ với những người khác. Đó cũng là lý do nhiều nghiên cứu cho thấy đàn ông kết hôn thường sẽ khỏe mạnh và sống lâu hơn”, tiến sĩ Legato giải thích.
Phụ nữ giỏi chăm sóc sức khỏe bản thân hơn
Chỉ 24% đàn ông đã đến gặp bác sĩ trong năm qua và 22% đến kiểm tra lượng cholesterol trong máu, theo Cơ quan Nghiên cứu về chăm sóc sức khoẻ Hoa Kỳ. Trong thực tế, hơn 1/4 (28%) đàn ông không có bác sĩ riêng và khoảng 1/5 trong số họ không có bảo hiểm y tế trong năm 2012, theo Tổ chức Kaiser Family.
“Đàn ông thường ngại nói về bệnh tật. Họ cố làm giảm thiểu các triệu chứng bởi không muốn đi gặp bác sĩ và tìm hiểu xem mình đang bị bệnh gì”, TS Legato ghi nhận.

Công dụng chữa bệnh của nghệ

Nghệ từ lâu đã được sử dụng trong y học Trung Quốc và y học của Ấn Độ để trị một số bệnh như đầy hơi, vàng da, kinh nguyệt không đều, nước tiểu có máu, xuất huyết, đau răng, vết bầm tím, ngực đau đớn, và đau bụng.

Nghệ có nguồn gốc từ cây curcuma longa - là một loại cây thân thảo lâu năm, thuộc họ gừng. Có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Nam Á màu da cam. Nghệ từ lâu đã được sử dụng như một loại thuốc chống viêm trong cả y học Trung Quốc và y học của Ấn Độ. Củ nghệ được gọi là "nghệ tây Ấn Độ", nghệ được sử dụng như là một thứ gia vị, phương thuốc chữa bệnh.
Dưới đây là một số công dụng trị bệnh hữu ích của nghệ.

Công dụng chữa bệnh của nghệ - 1
Nghệ là một chất khử trùng và kháng khuẩn tự nhiên, rất hữu ích trong khử trùng các vết cắt và vết bỏng. (Ảnh minh họa)

Nghệ là một chất khử trùng và kháng khuẩn tự nhiên, rất hữu ích trong khử trùng các vết cắt và vết bỏng. 
Nghệ kết hợp với súp lơ có thể ngăn ngừa ung thư tuyến tiền liệt và ngăn chặn sự phát triển của bệnh ung thư tiền liệt tuyến.
Có thể ngăn ngừa và làm chậm sự tiến triển của bệnh Alzheimer bằng cách loại bỏ mảng bám amyloid trong não. Nghệ ngăn chặn sự phát triển của các mạch máu mới trong các khối u.
Tốc độ chữa lành vết thương và hỗ trợ trong việc tái tạo làn da bị hỏng nhanh. Có thể giúp điều trị các bệnh vẩy nến và bệnh ngoài da viêm khác.
Có thể hỗ trợ trong việc chuyển hóa chất béo và giúp đỡ bạn trong việc giảm cân. Ngoài ra nghệ cũng được sử dụng trong y học Trung Quốc để điều trị trầm cảm từ lâu.
Làm giảm nguy cơ mắc bệnh bạch cầu ở trẻ em. Làm chậm sự tiến triển của bệnh đa xơ cứng ở chuột. Là một chất giải độc gan tự nhiên và thuốc giảm đau tự nhiên.

8 loại thực phẩm giảm cân không nên ăn

Bạn thường nghĩ rằng thực phẩm có nhãn “ít béo” sẽ tốt cho sức khỏe và cân nặng hơn. Nhưng thật ra, những thực phẩm được ghi “ít béo”, “được chiết giảm chất béo”, “không có chất béo” còn đưa tới những gì bạn không lường được khi mua chúng: Một nghiên cứu gần đây ở Anh cho thấy 10% thực phẩm giảm cân lại có lượng calo bằng hoặc nhiều hơn thực phẩm thông thường.

Khi những công ty chế biến chiết giảm chất béo trong sản phẩm, họ thường phải thêm đường, muối, và các chất phụ gia để hương vị thực phẩm ngon hơn.
Vì thế, nghiên cứu trên chỉ ra rằng nhãn dinh dưỡng “ít béo” đã khiến cho người tiêu dùng ngược lại ăn nhiều hơn.

8 loại thực phẩm giảm cân không nên ăn - 1
Không phải thực phẩm nào ghi ít béo cũng giúp bạn giảm cân theo ý muốn. 

1. Thịt xông khói kiểu Thổ Nhĩ Kỳ
Loại thịt thái mỏng, xông khói này thường được quảng cáo là ít béo hơn các loại thịt thường, nhưng không nhiều. Món thịt xông khói Thổ Nhĩ Kỳ của một thương hiệu thông thường chứ 35 calo và 3 gram chất béo trong khi loại thịt xông khói nạc nhất chứa 60 calo và 3,5 gram chất béo. Cả hai loại thịt này đều có lượng natri và nitrit cao, gây ra vấn đề về tim mạch.
2. Bánh nướng
Những món bánh nướng như bánh xốp và bánh ngọt không tốt hơn những loại đầy đủ chất béo. Một gói bánh ngọt vị việt quất từ một thương hiệu nổi tiếng chứa 280 calo, thấp hơn bánh ngọt thông thường có 370 calo. Nhưng loại ít béo hơn lại chứa nhiều đường hơn (36 gram so với 29 gram), và cũng giống loại thường, có lượng bột ngũ cốc cao. 


8 loại thực phẩm giảm cân không nên ăn - 2
Trong bánh ngọt ít béo có chứa nhiều sodium hơn với bánh ngọt thường. 

Một cái bánh ngọt ít béo chứa lượng sodium nhiều hơn 170 milligram so với loại thường. Đây là chất gây ra đau tim và đột quỵ.
3. Rau quả làm sẵn
Bạn nên ăn xà lách, nhưng loại thức ăn không có chất béo này sẽ khiến bạn đói ngay trong 1 giờ sau. Những công ty thực phẩm cho thêm đường và  chất ngọt nhân tạo vào rau quả trộn để chúng ngon hơn, có thể dẫn tới đột biến lượng đường trong máu tạo ra cảm giác thèm ăn. 


8 loại thực phẩm giảm cân không nên ăn - 3
Rau trộn là món ăn rất tốt giúp giảm cân. 

Một tác dụng của chất béo là khiến cơ thể bạn có khả năng hấp thụ chất beta-carotene và lycopene (những chất chống oxi hóa mạnh được tìm thấy trong cà chua, cà rốt, ớt). Chuyên gia dinh dưỡng Toby Amidor chỉ ra rằng rau quả làm sẵn cũng chứa đầy chất phụ gia và bảo quản.
4. Bơ đậu phộng
Hai muỗng canh bơ đậu phộng thường chứa  210 calo. Loại “ít béo” chứa 200 calo. Khi giảm chất béo, những công ty chế biến cho thêm chất đường trong ngũ cốc và các chất phụ gia để cải thiện hương vị.
Bạn nên chọn loại ghi thành phần chỉ gồm đậu phộng và muối, kể cả nó là loại đủ chất béo.
5. Sản phẩm thay thế trứng


8 loại thực phẩm giảm cân không nên ăn - 4
Dùng sản phẩm thay thế trứng chưa chắc đã ít chất béo hơn trứng. Hình minh họa 


Bạn có thể mua những sản phẩm này trong cửa hàng, và chúng thường được dùng trong món gà rán công nghiệp. Chúng được làm từ lòng trắng trứng, các chất ổn định, chất tạo màu để tạo cảm giác giống món trứng, ít calo và chất béo hơn. 
Vấn đề là, lòng đỏ quả trứng mới tốt nhất, chỉ chứa 5 gram chất béo và có chất choline - một loại dinh dưỡng cần thiết cho thần kinh, chức năng cơ bắp và bộ nhớ, cũng như lượng lớn vitamin A và D.
Trừ phi bạn có vấn đề về tim mạch và được bác sỹ khuyên không ăn nhiều trứng, không nên dùng loại thay thế.
6. Khoai tây chiên


8 loại thực phẩm giảm cân không nên ăn - 5
 Bạn có thể yên tâm dùng khoai tây chiên ít béo vì chúng sodium hơn khoai tây chiên thường. 


Nhãn hiệu trên một gói khoai tây chiên ít béo ghi có 140 calo, trong khi loại thường là 160 calo (và còn ít sodium hơn). Những loại khoai tây chiên “ít béo” tạo cảm giác an tâm khiến người dùng ăn nhiều hơn bình thường. 
Một nghiên cứu cho biết, chúng ta thường ăn nhiều hơn 25% nếu loại thực phẩm được ghi “ít béo”. Tương tự như thế với các loại snack khác như bánh quy (gồm tinh bột và rất nhiều muối), snack rau quả (chứa cực kỳ ít rau thật), và bánh gạo.
7. Món yến mạch trộn
Mặc dù yến mạch và trái cây sấy khô có vẻ tốt cho sức khỏe, các món yến mạch trộn thường chứa nhiều đường chiết từ gạo lức hay mía. 
Sự thật là một phần yến mạch trộn chỉ chừng 2/3 cốc đã có 17 gram đường. Ăn món này buổi sáng sẽ khiến lượng đường trong máu bạn cao vọt bất thường.
8. Kem và yogurt (yaua) ít béo


8 loại thực phẩm giảm cân không nên ăn - 6
Ăn nhiều sữa chua không hẳn là cách giảm cân tốt.


Rất nhiều người ăn kem và yogurt mỗi ngày và nghĩ rằng chẳng có hại gì, nhưng thường dẫn đến kết quả là họ ăn quá nhiều loại thực phẩm ngọt ngào chứa đầy calorie. 
Ngoài ra, nửa cốc yogurt hoặc kem chứa 17 gram đường. Yogurt ít béo thường chứa nhiều màu thực phẩm, vị nhân tạo và đường để ngon miệng và bắt mắt hơn.

Nước soda có liên quan đến bệnh gout?

Soda có đường có liên quan đến tất cả các bệnh, từ béo phì cho đến huyết áp cao. Nếu bạn đang lo lắng vì bệnh gout thì những thứ nước uống đó cũng có liên quan đến căn bệnh của bạn.

Trong thời gian thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự gia tăng trong tiêu thụ nước giải khát và sự gia tăng bệnh gout, các nhà nghiên cứu đã đưa ra được các số liệu: số người bị bệnh gout từ trước năm 1970 là 20 trên 100.000 người; vào giữa thập kỉ 90, con số này đã tăng lên trên gấp đôi so với tỉ lệ 45,9/100.000. Cùng với đó, số lượng tiêu thụ nước ngọt có ga ở người trưởng thành đã tăng 61% từ năm 1977 đến năm 1997.
Giáo sư Hyon Choi công tác tại trường Đại học Y Boston giải thích mối liên hệ giữa những bệnh nhân gout với việc uống soda là do trong soda có chứa đường fructose – loại đường làm tăng nồng độ axit uric, là nguyên nhân dẫn đến bệnh gout. Giáo sư cũng cho biết thêm fructose cũng có trong nhiều đồ uống và thực phẩm ngọt khác chứ không riêng gì soda.
110928afamilyskgout1 14a61 Nước soda có liên quan đến bệnh gout?
Đừng nên để quá nhiều soda trong tủ lạnh

Mối liên hệ giữa gout và soda

Axit uric được thận lọc và bài tiết ra khỏi cơ thể bằng nước tiểu. Bệnh gout được hình thành do axit uric tích tụ trong máu, hình thành tinh thể axit uric trong một hay nhiều khớp xương và dẫn đến đau đớn, sưng tấy. Có rất nhiều nguyên nhân làm cho nồng độ axit uric tăng cao và trong số đó là do nạp vào cơ thể quá nhiều fructose.
Nghiên cứu của giáo sư Choi đã cho thấy số người sử dụng nước ngọt có ga hai hoặc nhiều lần mỗi ngày có khả năng bị bệnh gout cao hơn 85% so với những người tiêu thụ ít hơn. Ngay cả trong nước trái cây đóng hộp có đường như nước cam cũng dễ dẫn đến nguy cơ bị bệnh.
Choi và các đồng nghiệp của ông đã tìm thấy sự gia tăng nhẹ nguy cơ bệnh gout với tiêu thụ có nồng độ fructose cao chẳng hạn như táo và cam. Tuy nhiên, giáo sư Choi nhấn mạnh:“Fructose nhân tạo trong nước soda dẫn đến bệnh gout cao hơn fructose tự nhiên có trong trái cây”.
110928afamilyskgout2 5e94e Nước soda có liên quan đến bệnh gout?

Ý nghĩa mối liên hệ này

Theo lẽ thông thường thì việc phòng chống bệnh gout tập trung vào hạn chế các loại thực phẩm nhiều protein và rượu, điều này có thể làm giảm khả năng tích tụ axit uric trong cơ thể. Theo nghiên cứu mới này thì việc hạn chế uống nước soda cũng có vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa bệnh gout trong tương lai.
Khi bạn hạn chế uống nước ngọt không chỉ làm giảm nguy cơ bị bệnh gout mà còn chống béo phì và làm giảm lượng đường trong máu. Vì vậy, thay vì uống nước ngọt trong các bữa ăn, các bạn nên uống nước lọc. Các khớp xương sẽ lấy làm biết ơn bạn đấy.

Lưu ý khi chọn thực phẩm dành cho người bị Gout

Bệnh Gout là bệnh có thể chữa khỏi, nhưng phải tuân thủ chế độ ăn nghiêm ngặt. Vì vậy, cần xây dựng một chế độ ăn phù hợp với khẩu vị và tình hình bệnh tật của người bị bệnh gout để vừa đảm bảo cho việc điều trị và đủ chất dinh dưỡng. Một trong những lưu ý trong chế độ ăn là nguồn purin trong thức ăn dành cho những người bệnh gout.

Nguồn purin trong thức ăn đóng vai trò khá quan trọng trong nguyên nhân gây ra bệnh gout. Những thức ăn giàu purin là nguồn sản sinh ra acid uric và các đồ uống có cồn làm tăng chuyển hóa purin ở gan. Bởi vậy, việc hạn chế những thực phẩm và đồ uống này sẽ có tác dụng ngăn chặn những cơn gout cấp bùng phát.

Thực phẩm

Những thực phẩm nên tránh: Người bệnh gút nên hạn chế các thức ăn có giàu đạm trong khẩu phần ăn hằng ngày như các loại thịt có màu đỏ, phủ tạng động vật, hải sản; không nên ăn các thực phẩm làm tăng tốc độ tổng hợp acid uric trong cơ thể như măng, giấm, giá, đậu, dọc mùng; điều chỉnh hợp lý các thực phẩm giàu chất béo chưa no, mỡ động vật, thức ăn chiên, rán, quay, thức ăn nhanh; không nên  ăn mặn.
Những thực phẩm nên dùng: Nên dùng các thực phẩm giàu chất xơ để giúp làm chậm quá trình hấp thu đạm, qua đó làm giảm thoái biến chất đạm để tăng sinh năng lượng, vì vậy mà giảm nguy cơ hình thanh acid uric. Nói chung là rau xanh và trái cây luôn là những nguồn thức ăn thân thiện với cơ thể. Ngoài ra nên dùng dầu thực vật thay cho mỡ động vật, các sản phẩm từ đậu nành, các sản phẩm sữa đã tách bơ.
725196 Lưu ý khi chọn thực phẩm dành cho người bị Gout
Hoa quả và rau xanh luôn là lựa chọn hàng đầu cho người bệnh gút

Chế độ dinh dưỡng trong bệnh gout

Tổng số calo/24h dành cho người bị bệnh gout là 1600 calo. Tỷ lệ phân phối calo là: đạm – béo – bột/ đường = 15% – 20% – 65%. Dưới đây là sự phân loại thức ăn theo hàm lượng purin(g/100g thực phẩm):
  • Hàm lượng thấp (0g – 15g): Sữa, phomat tươi, trứng, bánh mỳ, bột ngũ cốc, rau nói chung.
  • Hàm lương vừa (50g – 150g): Thịt, cá và ngư sản, gà, vịt, hạt họ đậu, lúa mạch, rau dền.
  • Hàm lương cao (>150g): Các phủ tạng, thịt rừng, măng tây, nấm, cá mắm, cá nục, cá mòi, nước cốt thịt, nước sốt thịt, nước dùng thịt.

Món ăn cho người bệnh gút

Một số món ăn có thể áp dụng trong bữa ăn hàng ngày của bạn:
Măng sợi xào: Măng tre 250g, chẻ thành sợi nhỏ, dùng 30ml dầu thực vật xào chín, cho vừa gia vị. Dùng thường xuyên và dùng khi bệnh gout chưa phát tác.
Măng sợi xào – một món ăn dùng khi cơn Gout chưa phát tác.
Canh củ cải gia vị: Củ cải 250g, bá tử nhân 30g. củ cải rửa sạch, thái sợi, sau khi được xào với dầu thực vật, cho thêm bá tử nhân và 500ml nước, đun hỗn hợp đến chin, cho vừa gia vị. Có thể ăn thường xuyên và dùng khi bệnh gout chưa phát tác.

Rượu bia làm tăng nguy cơ mắc bệnh gút

Bệnh gút đã được truyền tai nhau là “căn bệnh của nhà giàu” bởi chế độ ăn uống quá giầu dinh dưỡng là nguyên nhân chính gây nên tình trạng đau khớp này. Tuy nhiên, gần đây đã có nhiều nghiên cứu đưa ra quan điểm rằng. việc sử dụng đồ uống có cồn lâu ngày mới là thủ phạm lớn nhất của bệnh Gút. Vậy là có thêm khẳng định, rượu bia nhiều làm tăng nguy cơ bệnh gút.

 Rượu bia làm tăng nguy cơ mắc bệnh gút

Tác hại của rượu bia và nguy cơ bệnh gút

Trong bia có chứa hàm lượng Purin cao, chất được chuyển hòa thành acid uric trong máu, ngoài bia ra, các đồ ăn giầu purine bao gồm các loại nội tạng động vật, thịt béo màu đỏ và một số loại đồ biển. Bia chứa hàm lượng purine nhiều hơn hẳn các loại đồ uống có cồn khác và các nhà nghiên cứu tin rằng bia góp phần không nhỏ vào nhóm tác nhân gây bệnh Gout.
Cụ thể, các nhà nghiên cứu đã tiến hành nhiều thử nghiệm và đã đưa ra kết luận, nếu mỗi tuần bạn uống đều đặn 2 đến 4 cốc bia thì nguy cơ  mắc bệnh gút sẽ tăng lên 25% còn nếu bạn uống mỗi ngày ít nhất 2 cốc bia thì nguy cơ sẽ tăng lên 200% so với những người hoàn toàn không uống. Tóm lại nếu bạn uống càng nhiều bia thì nguy cơ bị Gout tấn công càng cao.
Những người sử dụng rượu mạnh cũng sẽ có chung số phận tương tự, tuy mức độ không nặng nề bằng những người uống bia. Chỉ cần bạn uống một hớp rượu mạnh trong vòng 1 tháng thì bạn đã có nguy cơ mắc bệnh gút. Và nếu bạn uống từ 2 hớp rượu mạnh trở lên thì nguy cơ mắc bệnh sẽ tăng lên 60% so với người bình thường không uống rượu.
Các nghiên cứu cũng chỉ ra không có nguy cơ mắc bệnh Gout ở những người sử dụng rượu ở mức độ vừa phải. Vậy nên, người bệnh gút nên giảm hoặc dừng hẳn việc sử dụng bia hoặc rượu mạnh. Tuy nhiên, chúng ta có thể uống một chút rượu vang.

Có cách nào phòng ngừa bệnh gút do bia rượu không?

Bản chất của việc uống bia rượu nhiều đã làm nguy cơ bị bệnh gút cao hơn nhiều so với người không uống rượu. Vậy thì cách tốt nhất để phòng ngừa trong trường hợp này là hạn chế hoặc dừng hẳn rượu bia. Đặc biệt với người đang bị gout thì càng nên nói không với 2 thứ nước uống gây kích thích này.
Ngoài việc hạn chế rượu bia, để phòng ngừa bệnh gút chúng ta nên lựa chọn các loại thức ăn lành mạnh, bổ dưỡng và cân đối khẩu phần ăn để cung cấp đủ năng lượng cho cơ thể hoạt động. Không được nhịn đói, bỏ bữa, không dùng các chất kích thích như ớt, hạt tiêu, các loại dưa muối, cà muối. Hạn chế tối đa các loại thực phẩm như gan, tim , lưỡi động vật, nấm, trứng cá, kem, bánh ga tô có kem. Nên tránh các loại thức ăn chứa quá nhiều đạm gây dư thừa chất, tăng cường vận động, điều chỉnh cân nặng về mức hợp lý, tập luyện các bài tập rèn sức bền vừa có tác dụng tăng cường sức khỏe chung, giảm cân và điều hòa các quá trình trao đổi chất. Tuy nhiên cần nghỉ tập trong giai đoạn tái phát của bệnh.

Bệnh gút và những nguy cơ bệnh tật khác

Nhiều người bệnh gút thường than phiền về các cơn đau do gút mang lại, đau đến nỗi chỉ cần chạm nhẹ thôi đã đau đến mức không thể chịu nổi. Không giống như các dạng viêm khớp diễn ra từ từ, bệnh gút thường tấn công rất bất ngờ và thường xảy ra vào ban đêm. Khi cơn đau diễn ra kèm theo sự khó chịu, sau đó kéo dài vài giờ, và vài ngày sau mới giảm dần. Không chỉ là cảm giác đau đớn, bệnh gút còn liên quan nhiều đến nguy cơ bệnh tật khác như béo phì, tăng lipit máu, tăng huyết áp, xơ vữa động mạch.

 Bệnh gút và những nguy cơ bệnh tật khác

Bệnh gút có liên quan đến béo phì

Các nhà khoa học đã tìm ra mối liên quan nhiều giữa trọng lượng cơ thể và nồng độ acid uric trong máu. Tỷ lệ bệnh gút tăng rõ rệt ở những người có trọng lượng cơ thể tăng trên 10%. Béo làm tăng tổng hợp acid  uric máu và làm giảm thải acid uric niệu, kết hợp của cả 2 nguyên nhân này dẫn tới tình trạng tăng acid uric máu và nguy cơ bệnh gút. Người ta cũng đã thống kê được rằng 50 % bệnh nhân gout có dư cân trên 20 % trọng lượng cơ thể.

Nguy cơ tăng lipit máu và nguy cơ bệnh gút

Các chuyên gia cũng đã thống kê được rằng, 80% người tăng lipit máu có sự phối hợp của tăng acid uric máu, và khoảng 50 % – 70 % bệnh nhân gout có kèm tăng lipit máu. Sự liên quan giữa gút và rối loạn lipit máu chính là một phần của hội chứng chuyển hóa bao gồm tăng BMI dẫn tới béo phì vùng bụng, tăng huyết áp, tiểu đường, tình trạng đề kháng insulin và nguy cơ bị bệnh mạch vành. Tăng acid uric máu kết hợp với béo phì vùng bụng là nhóm nguy cơ cao của bệnh tim mạch có liên quan đến sự đề kháng insulin.

Mối liên quan giữa bệnh gút và tăng huyết áp

Người ta phát hiện ra rằng, có khoảng 22-38% các trường hợp bị tăng huyết áp không được điều trị có nguy cơ bị tăng acid uric máu. Tỷ lệ bệnh gout trong dân số tăng huyết áp là 2 –12 % tuy nhiên không có sự liên quan giữa acid uric máu và trị số huyết áp. Có 25 – 50 % bệnh nhân gout có kèm tăng huyết áp, chủ yếu ở các bệnh nhân béo phì. Nguyên nhân gây nên mối liên hệ giữa bệnh gout và tăng huyết áp hiện nay vẫn chưa được làm rõ.

Xơ mỡ động mạch và bệnh gút

Xơ mỡ động mạch có liên quan nhiều đến tình trạng thừa cân béo phì hơn là sự tăng acid uric máu. Ở bệnh nhân bị gout, các yếu tố của bệnh mạch vành như tăng huyết áp, béo phì, đề sáng insulin, tăng TG máu góp phần làm tăng sự liên quan giữa acid uric máu và xơ mỡ động mạch. Các yếu tố nguy cơ này tự nó làm tăng nguy cơ của bệnh tim mạch, và như vậy, acid uric máu chỉ gián tiếp làm tăng nguy cơ đột tử do bệnh tim mạch thông qua việc kết hợp với các bệnh lý có nguy cơ cao nói trên.