Hiển thị các bài đăng có nhãn benh-tieu-duong. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn benh-tieu-duong. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2015

Bí quyết phòng bệnh tiểu đường ai cũng có thể làm được

Để phòng bệnh tiểu đường, các bạn nên hạn chế thời lượng xem tivi và loại bỏ thói quen thức khuya, dậy muộn, chế độ ăn uống và tập luyện thể dục thể thao hợp lý

Ba triệu người ở Anh hiện đang bị bệnh tiểu đường loại 2 và có khả năng tử vong. Điều này gióng lên hồi chuông cảnh báo con người cần phòng bệnh tiểu đường một cách triệt để. Có nhiều cách phòng bệnh mà tất cả mọi người đều có thể làm được, đơn giản nhất là thay đổi lối sống của mình theo hướng tích cực.

Bạn có thể cắt giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh tiểu đường chỉ bằng cách giảm thời gian xem tivi và tránh thức đêm. Những người bị bệnh tiểu đường có nguy cơ bị đột quỵ hay bệnh tim cao gấp 5 lần so với những người khỏe mạnh.

bi-quyet-phong-ngua-benh-tieu-duong
Ảnh minh họa
Trong một nghiên cứu với hơn 3.000 người lớn thừa cân tham gia trong một chương trình phòng chống bệnh tiểu đường ở Mỹ, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng, những người ngồi một chỗ trong nhiều giờ sẽ có khả năng phát triển bệnh tiểu đường cao 3,4% so với những người thường xuyên vận động.

Các nghiên cứu đã kết luận: "Các chương trình can thiệp lối sống trong tương lai nên cân nhắc cả việc giảm thời lượng xem tivi và loại bỏ thói quen ít vận động để phòng bệnh tiểu đường, chứ không chỉ khuyến khích tăng cường hoạt động thể chất".

Trong phần thứ hai của nghiên cứu được thực hiện tại Hàn Quốc, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người thức khuya và dậy muộn có nhiều khả năng phát triển bệnh tiểu đường hơn so với những người dậy sớm - ngay cả khi họ có được cùng một thời lượng giấc ngủ.

Tác giả nghiên cứu, Tiến sĩ Nan Hee Kim nói: "Bất kể lối sống như thế nào, những người thức khuya phải đối mặt với một nguy cơ bị các vấn đề về sức khỏe như bệnh tiểu đường cao hơn những người ngủ sớm, dậy sớm".

Richard Elliott, chuyên gia nghiên cứu tại Tổ chức từ thiện Tiểu đường Anh, cho biết: "Nghiên cứu này càng củng cố thêm minh chứng rằng giảm thời gian ngồi hoặc nằm lì một chỗ sẽ giúp giảm nguy cơ của bệnh tiểu đường".


tap-the-duc-thuong-xuyen-giam-nguy-co-mac-benh-tieu-duong
Tập thể dục thường xuyên giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường

Một số thói quen sống tốt giúp phòng ngừa bệnh tiểu đường:

- Ăn nhiều rau xanh: Ăn nhiều rau giúp bạn ổn định trọng lượng tốt hơn, giảm thiểu lượng mỡ thừa, từ đó kéo theo tác dụng giữ lượng đường trong máu được ổn định.
- Tránh thịt đỏ và thịt chế biến: Thịt đỏ như thịt bò chứa cholesterol khá cao,có thể đặt bạn vào nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường cao hơn.
- Thường xuyên kiểm tra huyết áp và lượng cholesterol: Hiệp hội Tiểu đường Mỹ khuyến cáo huyết áp nên duy trì ở mức thấp hơn 130/80mmHg để ngăn ngừa những biến chứng thường đi kèm bệnh tiểu đường.
- Tăng cường vận động: Vận động giúp cơ thể tăng cường sử dụng hormone insulin một cách hiệu quả hiệu quả. Hơn nữa, tập thể dục thường xuyên sẽ giúp bạn giảm cân, làm giảm nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường.

Các thuốc điều trị bệnh đái tháo đường

Đái tháo đường là bệnh chuyển hoá có đặc điểm là tăng glucose máu, hậu quả của sự thiếu hụt bài tiết insulin. Tăng glucose máu thường kết hợp với sự huỷ hoại, sự suy yếu chức năng của nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu.

Với người bệnh đái tháo đường, việc kiểm soát đường máu tốt là vô cùng quan trọng! Nếu như việc thay đổi thói quen ăn uống và luyện tập chưa kiểm soát tốt được mức đường máu thì cần phải kết hợp với dùng thuốc, việc chỉ định dùng thuốc là do bác sĩ điều trị của bạn quyết định.

Thuốc điều trị bệnh đái tháo đường có thuốc uống hạ đường máu và insulin để kiểm soát lượng đường khi thực hiện chế độ ăn và tập thể dục không kiểm soát được đường máu.


Mục tiêu điều trị: Mục tiêu kiểm soát đường máu theo ADA 2010
- HbA1c < 7% được coi là mục tiêu chung cho cả ĐTĐ týp 1 và týp 2.
- Glucose máu lúc đói nên duy trì ở mức: 3,9 - 7,2 mmol/L (70 - 130mg/dl).
- Glucose máu sau ăn 2 giờ <10mmol/L (<180mg/dl).

Sử dụng Insulin như thế nào
Cơ sở sử dụng insulin: Người bệnh đái tháo đường týp 1 phụ thuộc vào insulin ngoại sinh để tồn tại. Ngược lại, người bệnh đái tháo đường týp 2 không phải phụ thuộc insulin ngoại sinh để tồn tại. Nhưng sau một thời gian mắc bệnh nhiều người đái tháo đường týp 2 có giảm sút khả năng sản xuất insulin, đòi hỏi phải bổ sung insulin ngoại sinh để kiểm soát glucose máu một cách đầy đủ.

Phân loại Insulin: Sử dụng insulin để đạt được hiệu quả kiểm soát chuyển hoá glucose tốt nhất đòi hỏi sự hiểu biết về khoảng thời gian tác dụng của các loại insulin khác nhau.

Loại Insulin
Tên biệt dược
Đường tiêm
Màu sắc
Tác dụng nhanh
Apart (NovoLog)
Lispro ( Humalog)
Tiêm tĩnh mạch/
Tiêm dưới da
Trong
Tác dụng ngắn
Insulin Actrapid HM
Humulin R
Scilin R
Tiêm tĩnh mạch/
Tiêm dưới da
Trong
Tác dụng trung bình
Insulatard HM
Humulin N
Scilin N
Tiêm dưới da
Đục
Tác dụng kéo dài
Glargin (Lantus)
Determir (Levermir)

Tiêm dưới da
Trong
Hỗn hợp
Insulin Mixtard HM 30/70
Humulin M70/30
Scilin M30
NovoMixt
Tiêm dưới da
Đục


Liều tiêm Insulin: bất kỳ phác đồ điều trị nào thích hợp phải được xem xét cho từng đối tượng bệnh nhân riêng biệt và phải được đánh giá lại liên tục. Thông thường phác đồ đơn giản nhất đạt được mục tiêu điều trị sẽ được lựa chọn để áp dụng. Hầu hết người bệnh đái tháo đường týp 1 cần ít nhất 2 lần tiêm insulin một ngày và nhiều người cần đến 3 - 4 lần tiêm một ngày. Trường hợp cần điều trị với 1 hoặc 2 mũi tiêm hàng ngày, thường kết hợp với các thuốc hạ glucose máu bằng đường uống ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2.

Quy trình tiêm: Insulin nên được tiêm vào tổ chức dưới da. Người bệnh có thể tự tiêm bằng cách kéo nhẹ da lên và tiêm ở góc 90 độ. Những người gầy hoặc trẻ em có thể dùng kim ngắn hoặc có thể véo da lên và tiêm góc 45 độ để tránh tiêm vào cơ, đặc biệt ở vùng đùi. Sau khi dùng bút tiêm insulin, kim nên lưu lại trong da 5 giây sau khi đã ấn toàn bộ bơm tiêm pittông để đảm bảo cung cấp toàn bộ liều insulin. Tiêm insulin vào tổ chức dưới da của bụng thường được ưa dùng, nhưng cũng có thể tiêm mông, đùi hoặc cánh tay. Không nên sử dụng đường tiêm insulin vào bắp hàng ngày. Thay đổi vị trí tiêm là cần thiết để ngăn ngừa phì đại hoặc teo tổ chức mỡ dưới da tại nơi tiêm. Người ta thường quay vòng trong một vùng (ví dụ quay vòng trong các mũi tiêm có hệ thống trong vùng bụng) hơn là quay vòng trong những vùng khác nhau mỗi lần tiêm. Những vùng phì đại mỡ thường hấp thu insulin chậm hơn.

Bảo quản insulin: Lọ insulin không được sử dụng nên để vào tủ lạnh (ngăn mát). Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp và lắc nhiều có thể làm hỏng insulin. Insulin đang sử dụng có thể giữ ở nhiệt độ phòng để hạn chế gây kích thích vị trí tiêm.

Một số lưu ý khi sử dụng Insulin:
+ Insulin tác dụng nhanh nên được tiêm ngay trước hoặc sau bữa ăn. Insulin tác dụng trung gian hoặc hỗn hợp cần được lăn tròn lọ thuốc trước khi sử dụng.
+ Không được trộn lẫn với bất kỳ loại insulin khác trong cùng bơm tiêm do pH không tương thích.
+ Insulin cũng có thể gây dị ứng với biểu hiện sẩn ngứa trên da, ngứa tại chỗ tiêm insulin.
+ Ngăn ngừa tình trạng hạ đường máu quá mức bằng cách tiêm đúng liều theo chỉ định của bác sĩ và không được bỏ bữa ăn.

Các thuốc viên uống hạ đường máu
Thuốc uống hạ đường máu có thể làm cho tuyến tuỵ tiết nhiều insulin hơn, giúp gan giảm sản xuất đường, làm cho các cơ sử dụng nhiều đường, hoặc làm chậm sự phân huỷ tinh bột thành đường.
Có những thuốc uống nào để điều trị đái tháo đường týp 2? Có các nhóm thuốc uống điều trị đái tháo đường và một số loại thuốc uống kết hợp hai loại thuốc. Mỗi nhóm thuốc có một cách tác dụng khác nhau giúp kiểm soát đường máu ở bệnh nhân đái tháo đường.

Thuốc kích thích tuỵ tiết insulin: Nhóm thuốc này có tác dụng kích thích tuỵ tiết insulin, bao gồm nhóm Sulfonylurrea và nhóm glinides.
Nhóm sulfonylurea có các thuốc như: gliclazid (Diamicron MR 30mg, Diamicron 80mg, Predian 80mg. Glimepirid (Amaryl 2- 4 mg). Glibenclamid (Glibenhexal 3,5mg). Glyburide (1,25/ 2,5/ 5mg). Glipizide (Glucotrol 5/10mg). Thuốc được dùng trước bữa ăn, có thể uống 1 – 2 lần/ngày tùy thuộc từng loại thuốc cụ thể. Tác dụng phụ hay gặp: hạ đường máu quá mức. Không dùng được nhóm thuốc này cho người bị đái tháo đường týp 1, phụ nữ đái tháo đường mang thai, suy gan, suy thận nặng.
Nhóm glinides (Meglitinide): tác dụng của thuốc giống sulfonylureas nhưng ngắn hơn và yếu hơn. Thuốc được hấp thu nhanh qua đường tiêu hoá, và được chuyển hoá hoàn toàn ở gan. Thời gian bán huỷ là dưới 1 giờ, nên gây tăng insulin nhanh và trong thời gian ngắn. Uống thuốc 1-10 phút trước bữa ăn, thường là bữa chính. Hiện nay có một số thuốc như: meglitinide (Starlix), repaglinide (Prandin, Novonorm viên 1 và 2mg). Thuốc có thể dùng được cho bệnh nhân suy thận hoặc bệnh nhân lớn tuổi. Thuốc có thể gây tăng cân, gây hạ đường máu nhưng ít hơn sulfonylurea.
Biguanide: Thuốc duy nhất còn sử dụng làm metformin (1,1-dimethylbiguanide hydrochloride).

- Tác dụng chủ yếu là ức chế sản xuất đường từ gan và tăng tính nhạy cảm của cơ thể đối với insulin.
- Hiệu quả là làm giảm đường máu.
- Thường dùng giữa hoặc sau bữa ăn để tránh tác dụng không mong muốn (như buồn nôn, tiêu chảy, đau bụng có thể xảy ra trong những ngày đầu dùng thuốc).
- Ưu điểm: Metformin không gây tăng cân và có thể cải thiện mức độ cholesterol. Nó không gây ra hạ đường máu khi sử dụng một mình.
- Tác dụng phụ hay gặp là buồn nôn, tiêu chảy, hoặc mất cảm giác ngon miệng. Nhiễm toan lactic là tác dụng phụ nghiêm trọng nhưng rất hiếm.
- Metformin có thể không phù hợp khi bệnh nhân có suy thận, hoặc các bệnh lý về hô hấp nặng, bệnh nhân 80 tuổi trở lên, đang dùng thuốc điều trị suy tim, có tiền sử bệnh gan, uống rượu quá nhiều.
- Có thể điều trị kết hợp với thuốc sulfonylurea hoặc insulin.
Thiazolidinediones
- Thuốc làm tăng nhạy cảm của cơ và tổ chức mỡ với insulin bằng cách hoạt hoá PPARγ, vì vậy làm tăng thu nạp glucose từ máu. Thuốc làm tăng nhạy cảm của insulin ở cơ vân, đồng thời ngăn cản quá trình bài tiết glucose từ gan.
- Loại thuốc chính sẵn có là Pioglitazone, thuốc này có thể dùng đơn độc hoặc kết hợp với các thuốc khác hoặc insulin. Tác dụng phụ bao gồm tăng cân, giữ nước và rối loạn chức năng gan. Khi dùng thuốc xét nghiệm chức năng gan nên được làm thường quy 2 tháng 1 lần.

Các thuốc có ảnh hưởng đến hấp thu glucose (Alpha-Glucosidase Inhibitor) ức chế hấp thu đường, làm giảm đường máu sau ăn.
- Thuốc nhóm này có: Glucobay (50 mg và 100mg).
- Tác dụng phụ thường gặp: đầy hơi và tiêu chảy.
- Thuốc cần sử dụng phối hợp với một loại hạ glucose máu khác. Thuốc được uống ngay trong khi ăn.
- Ưu điểm: thường không gây tăng cân, không gây ra biểu hiện hạ đường máu khi được sử dụng một mình.
- Lưu ý: Bởi vì các thuốc này làm việc trực tiếp trong ruột, những người có viêm đường ruột, bệnh đường ruột khác không nên dùng chúng.
- Thường được sử dụng phối hợp với một số thuốc tiểu đường khác.

Nhóm các thuốc tác dụng trên hệ incretin
- Các thuốc đồng phân GLP-1 (Glucagon - like Peptide 1): Có tác dụng kích thích tiết insulin khi nồng độ đường máu tăng lên sau ăn. Hậu quả là làm giảm đường máu sau ăn. Tác dụng phụ: Buồn nôn gặp ở 15 - 30% BN (thường tự hết), hạ đường máu có thể xảy ra khi dùng cùng thuốc kích thích tiết insulin.
- Thuốc ức chế DPP IV: Có tác dụng kích thích tiết insulin khi nồng độ đường máu tăng lên sau ăn. Ưu điểm: không gây tăng cân. Tác dụng phụ thường gặp: thỉnh thoảng có thể gây khó chịu dạ dày và tiêu chảy, đau đầu, đau họng. Lưu ý: nếu có vấn đề về thận, cần được giảm liều.
Làm thế nào thuốc điều trị đái tháo đường có thể giúp kiểm soát đường máu
Nói chung, thuốc đái tháo đường sẽ giúp kiểm soát lượng đường trong máu ở những người bị bệnh đái tháo đường. Tuy nhiên, các loại thuốc này đạt hiệu quả tốt nhất khi được sử dụng phối hợp với chế độ ăn và tập thể dục.

Bệnh nhân không tự động điều chỉnh liều thuốc điều trị đái tháo đường nếu không có hướng dẫn của thầy thuốc, không tự ý bỏ thuốc, không rút bớt mũi tiêm insulin. Bệnh nhân nên tuân thủ các chỉ định điều trị của bác sĩ.Tốt nhất bệnh nhân phải tự theo dõi đường máu thường xuyên.

Bạn cũng nên biết rằng:
+ Chế độ ăn uống và tập thể dục là chìa khóa để quản lý bệnh đái tháo đường.
+ Thuốc uống điều trị đái tháo đường đôi khi không có tác dụng sau một vài tháng hoặc nhiều năm.
+ Chuyển đổi một thuốc điều trị đái tháo đường cũng như phối hợp thêm thuốc vào điều trị hiện tại của bạn là cần thiết khi các thuốc đang điều trị không đạt được mục tiêu kiểm soát đường máu.
+ Ngay cả khi thuốc uống điều trị đái tháo đường đem lại lượng đường trong máu của bạn ở gần mức bình thường, bạn vẫn có thể cần dùng insulin nếu bạn có một nhiễm trùng nghiêm trọng hoặc cần thiết phải phẫu thuật.
+ Nếu bạn dự định có thai, bạn nên chuyển sang tiêm insulin cho đến khi em bé được sinh ra.
+ Không có thuốc "tốt nhất" hoặc điều trị cho bệnh đái tháo đường týp 2.

Bạn có thể phải cần nhiều hơn một loại thuốc điều trị bệnh đái tháo đường hoặc một sự kết hợp của thuốc điều trị bệnh đái tháo đường. Điều trị đái tháo đường có thể sử dụng một loại thuốc đơn độc hay phối hợp nhiều loại thuốc với nhau, có thể tiêm insulin hoặc phối hợp giữa thuốc uống với tiêm insulin. Bác sĩ sẽ lựa chọn phác đồ nào cho phù hợp với từng bệnh nhân cụ thể.

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2015

Cây thuốc nam chữa bệnh tiểu đường hiệu quả trong dân gian

Việc điều trị bệnh tiểu đường bằng các loại thuốc tây vừa gây cho bệnh nhân mệt mỏi lại ảnh hưởng về kinh tế, gây biến chứng các bệnh khác.Xin giới thiệu đến bạn đọc cách trị bệnh tiểu đường bằng các cây thuốc nam trong dân gian quanh ta.
cay-thuoc-nam-chua-benh-tieu-duong-hieu-qua
Cây thuốc nam chữa bệnh tiểu đường hiệu quả

Cây thuốc nam chữa bệnh tiểu đường rất công hiệu và an toàn không gây biến chứng mà nhiều người không biết cứ lầm tưởng điều trị tây y hiệu quả quên đi các giá trị mà bài thuốc cổ truyền trong dân gian mang lại. Việc tìm các vị thuốc nam không khó vì đây là cây thuốc, cây cỏ quanh nhà, mà chúng ta rất dễ gặp như mướp đắng( khổ qua), nha đam (lô hội), húng quê… Các loại cây này giúp giảm bớt các triệu trứng do tiểu đường gây ra rất hiệu quả cho những người mắc bệnh tiểu đường.
>> Đa số người trung niên tuổi trở lên bị thoái hóa đốt sống cổ, hãy tìm hiểu thêm về căn bệnh này để có biện pháp phòng và chữa tốt nhất.

cay-thuoc-nam-chua-benh-tieu-duong
Cây húng quế chữa bệnh tiểu đường
Dưới đây là danh sách cây thuốc nam chữa bệnh tiểu đường dễ kiếm:

1. Phát tiêu (Sulfate de Soude), uống 1-2 ngày đầu, mỗi lần chừng 1 muỗng cà phê, cho xổ sạch. Rồi lấy trái đu đủ chín ương ương, não nhỏ(bỏ vỏ), đàn vào dĩa lớn, rắc đường phơi sương 1 ngày 1 đêm. Ăn tới khỏi. Rất hay.(Thuốc dân gian)

2. Trứng gà tốt, có trống, bỏ vào ly đổ dấm ngập(Được dấm thanh thì hay hơn), ngâm 1 đến 2 ngày, bóc vỏ ăn hết, ăn độ 5-6 ngày là hết bệnh. Thần hiệu.

3. Hai lá lách heo bỏ màng mỏng ngoài, rửa sạch hầm chung với nước râu bắp cho chín kỹ. Ăn cả cái lẫn nước(râu bắp 1 nắm nấu kỹ bỏ bã, lấy nước nấu lá lách). Ăn mấy ngày, đo độ đường, nếu thấy xuống bình thường thì ngưng ăn, kẻo xuống thấp quá.

4. Tầm gửi cây giâu, nhai nuốt mỗi lần 7 búp (đàn ông) hay 9 búp (đàn bà)

5. Hạt me chua, sao vàng úp xuống đất, làm 3 lần như vậy. Sắc uống.

6. Bông mã đề hái phơi trong râm cho khô, sắc uống như trà.

7. Dứa gọt bỏ lõi, bỏ lá lách heo vào trong, nấu cách thủy, xay ăn độ ¾ trái.

8. Giây mướp đắng phơi khô trong râm, (Sao vàng hạ thổ). Sắc uống

9. Hạt kê (svht) nấu ăn

10. Nấm Linh chi 1 chỉ – Tam thất 1 chỉ – Qui Đông 4 chỉ rưỡi. Nấu 15 phút, uống thay trà, khi nào thấy độ đường xuống trung bình thì thôi(Một người cho Cha Đỗ Bá Công)

11. Khế thái mỏng phơi khô(trong râm), sáng nấu một bốc, với nửa lít nước, uống cả ngày. Sau 3 tháng độ đường xuống bình thường, có ăn ngọt cũng không lên độ(một ông ở Houston cho LM Linh Uy)

12. Cải soong, củ cải, cần tây, mùi tây, tía tô, cà rốt, cả bắp, xay ép lấy nước uống.

13. Lá cây hồng ăn trái, phơi trong râm, nấu nước uống thay nước trà.

14. Gạo nếp, gạo tẻ đều 50g, nấu cháo nhừ, củ cải, gọt vỏ, xay nát, thêm gia vị bỏ vô chảo nấu sôi, ăn 2 lần trong ngày. Ăn 3 ngày.

15. Đậu xanh bỏ vỏ 100g nấu nhừ, bí đao bỏ vỏ 200g, xay nát, thêm gia vị, bỏ vô chảo nấu sôi, ăn nóng, lúc đói, 1 lần trong ngày. Ăn 3 ngày liền.

16. Dứa 1 quả (gần chín) độ 500g. Khoét núm, bỏ lõi đi, bỏ 10g phèn chua vô trong, đậy nắp lại, lấy tăm ghim chặt. Nướng trên than củi, khi nào vỏ cháy xám, nạo ruột cho bệnh nhân ăn, 1 lần trong ngày. Ăn 3 ngày liền.

17. Đu đủ gần chín, 1 gủa độ 300g, gọt vỏ, khoét núm, bỏ hạt, bỏ đường phèn 30g vô trong, ghim nắp lại, chưng chín, ăn 1 lần trong ngày. Ăn 3 ngày liền.

18. Táo đỏ 7 quả, kén tằm (còn con nhộng) 7 tổ. ninh nhừ, uống nước. Uống 2 ngày hết bệnh.

19. Cuống rau muống 60g, râu ngô 30g. Rửa sạch nấu nước uống.

20. Củ cải tươi, bỏ vỏ, 250g, nấu với cá muối khô 25g. Cách ngày ăn 1 lần.

21. Rau cần 500g. Rửa sạch xay, lọc nước đun lên uống.

22. Lá lách heo 1 bộ, rửa sạch, rửa sạch thái nấu chín(không bỏ muối), đập vào 3 quả trứng gà (có trống) với 60g củ cải cúc, nấu sôi, ăn cả nước và cái, ngày 1 lần.

23. Lá lách heo 1 bộ, hạt bo bo 60g. Nấu ăn 1 lần trong ngày.

24. Đậu đũa luộc ăn lạt.

25. Vỏ con sam(đốt cháy) 5 chỉ. Cây vú sữa (Sao vàng) 5 chỉ. Nấu uống hằng ngày thay trà. Rất công hiệu. ban Y Tế Cần Thơ cung cấp.

26. Hoài Sơn – Phòng đảng sâm – Chích cam thảo – Chích huỳnh kỳ – Sanh bạch truật – Cát Căn; đều 5 chỉ. Sắc 6 chén còn 3 chén, uống 3 lần. (Đỗ Phong Thuần)

27. Hoài sơn 5 chỉ -Phong đảng sâm 5 chỉ – Chích huỳnh kỳ 4 chỉ – bạch truật 4 chỉ – thăng ma 3 chỉ – Cát căn (nướng) 3 chỉ- Vỏ biển đậu 3 chỉ – Chích cam thảo 3 chỉ. Sắc 8 chén còn 3 chén, uống 3 lần (Đỗ P.Thuần)

28. Gà giò bằng 2 vốc tay làm sạch, chanh thái mỏng phủ kín gà. Chưng cách thủy khi chín ăn cả gà và chanh (Ô. Hiệp W.Falls)

29. Nước thân cây chuối tiêu
Mỗi buổi sáng lấy dao chặt ngang cây chuối, khoét bỏ 1 khúc lõi trong thân, dài khoảng 10cm, dùng 1 bao ny lông sạch bịt chỗ mới cắt cho khỏi bụi. Nửa giờ sau, hút nước chỗ lõi cây chuối chảy ra, được độ trên nửa chén. Uống hết 1 lần.

Các nhân tố dẫn đến bệnh đái tháo đường

Nhân tố gây bệnh đái tháo đường có: Viêm nhiễm, béo phì, hoạt động thể lực giảm, mang thai và nhân tố môi trường.
nhan-to-nao-gay-nen-benh-dai-thao-duong
Nhân tố gây bệnh đái tháo đường là gì?
1, Viêm nhiễm: Viêm nhiễm chiếm vị trí vô cùng quan trọng trong các nguyên nhân gây bệnh đái tháo đường. Đặc biệt nhiễm virus là nguyên nhân chủ yếu gây đái tháo đường tuýp I. Nhiễm virus có thể dẫn đến viêm đảo tụy, thiếu hụt insulin mà gây nên đái tháo đường. Ngoài ra, sau khi nhiễm virus có thể khiến cho đái tháo đường tiềm ẩn biến thành đái tháo đường thực sự.

2, Béo phì: Đa số bệnh nhân đái tháo đường tuýp I có hiện tượng thừa cân. Béo là một nhân tố khác gây nên bệnh tiểu đường. Khi béo phì màng tế bào chất béo và màng tế bào cơ thịt giảm số lượng các thụ thể insulin, khả năng của insulin giảm, mức độ nhạy cảm của tế bào gốc đối với insulin giảm, gây trở ngại chức năng sử dụng đường, làm cho đường máu tăng cao và xuất hiện bệnh tiểu đường.

3, Hoạt động thể lực:
Tăng các hoạt động thể lực có thể giảm nhẹ hoặc phòng béo phì, từ đó tăng cường tính nhạy cảm của insulin, đường máu sẽ được sử dụng, từ đó không bị đái tháo đường. Ngược lại, nếu như giảm các hoạt động thể lực, thì dễ bị béo phì, từ đó giảm tính nhạy cảm của insulin đối với các tế bào tổ chức, việc sử dụng đường máu của cơ thể bị trở ngại từ đó mà gây nên bệnh tiểu đường.

4, Mang thai: Thời kỳ mang thai, estrogen tăng cao, một mặt estrogen có thể tạo ra miễn dịch tự thân, phá vỡ tế bào β, mặt khác estrogen lại có tác dụng kháng insulin, do đó, mang thai nhiều lần có thể dẫn đến bệnh đái tháo đường.

5, Nhân tố môi trường: Trên cơ sở di truyền, nhân tố môi trường có vị trí vô cùng quan trọng trong những nguyên nhân gây nên bệnh đái tháo đường. Nhân tố môi trường bao gồm: Ô nhiễm không khí, âm thanh, cạnh tranh xã hội… Những nhân tố này căn cứ theo mức độ nghiêm trọng và thời gian kéo dài mà càng ngày càng nhiều gen bị thay đổi, gen bị đột biến. Đột biến gen đến một mức độ nhất định có thể gây nên đái tháo đường.

Bệnh tiểu đường thai kỳ

Phụ nữ mang thai mắc bệnh tiểu đường dễ bị sang chấn tinh thần vì lo sợ ảnh hưởng cho cả mẹ và bé. Việc kiểm soát tiểu đường cho bà bầu cũng rất chặt chẽ từ chế độ ăn uống đến vận động.

mac-benh-tieu-duong-khi-mang-thai-nen-an-gi
Phụ nữ mang thai mắc bệnh tiểu đường nên ăn gì
Tiểu đường thai kỳ là tình trạng rối loạn dung nạp glucose ở bất kỳ mức độ nào, được phát hiện trong thời kỳ mang thai. Có thể nói, đái tháo đường  thai kỳ chính là một thể bệnh đái tháo đường, chỉ xuất hiện và chỉ tồn tại trong thời gian người phụ nữ mang thai. Bệnh  khởi phát trong khi có thai và tự khỏi sau khi sinh. Nếu trong vòng 6 tuần sau khi sinh, người mẹ  chưa khỏi bệnh thì lúc này không được chẩn đoán là đái tháo đường thai kỳ nữa mà thuộc thể bệnh đái tháo đường type 1, type 2, đái tháo đường do dinh dưỡng hoặc triệu chứng. Có nghĩa là chẩn đoán ĐTĐ thai kỳ một cách chắc chắn nhất đó là chẩn đoán hồi cứu sau khi sinh 6 tuần. 

Dưới đây là chế độ ăn uống được các chuyên gia khuyến nghị cho người bị tiểu đường thai kỳ để sức khỏe của mẹ và bé đều an toàn.

Phân phối các loại thực phẩm của bạn giữa ba bữa chính và hai hoặc ba bữa ăn nhẹ mỗi ngày: Không nên ăn quá nhiều một lúc vì nó có thể làm lượng đường trong máu tăng lên nhiều. Trong thời gian mang thai tuyệt đối không được bỏ bữa vì sẽ ảnh hưởng tới nhu cầu dinh dưỡng cân bằng của em bé. Thông thường lượng đường trong máu sẽ khó kiểm soát vào buổi sáng vì biến động của hormone. Những người có tiểu đường thai kỳ nên ăn bữa sáng với tinh bột và protein sẽ là lựa chọn tốt nhất.

Tiêu thụ lượng tinh bột hợp lý: Thức ăn tinh bột cuối cùng chuyển thành glucose vì vậy cần phải có chế độ tinh bột hợp lý. Tuy nhiên, tinh bột nên được bao gồm trong mỗi bữa ăn. Các chuyên gia dinh dưỡng khuyên những phụ nữ mang thai bị tiểu đường nên ăn khoảng 1 bát ngũ cốc mỗi ngày.

Sữa: Hàm lượng canxi, vitamin và khoáng chất trong sữa chiếm tỷ lệ khá cao, vì thế nó là nguồn bổ sung dinh dưỡng cần thiết cho các bà mẹ mang thai. Tuy nhiên sữa cũng là một dạng chất lỏng của carbohydrate chính vì thế không nên uống quá nhiều sữa một lúc. Một cốc chứa khoảng 200ml sữa/1 lần uống, uống 2-3 cốc sữa/1 ngày, thời gian cách xa nhau được các chuyên gia khuyến cáo.

Trái cây: Trái cây là loại thực phẩm lành mạnh nhưng nó chứa lượng đường tự nhiên khá cao. Mỗi ngày nên ăn từ 1-3 phần trái cây, và cũng không nên ăn quá nhiều trái cây trong một lúc. Không nên ăn các loại trái cây được đóng hộp hoặc được chế biến dưới dạng siro vì loại này thường chứa lượng đường khá cao.
han-che-an-cac-loai-thuc-pham-co-duong
Hạn chế các món tráng miệng, các loại thực phẩm chứa đường,…
Ngoài việc duy trì chế độ ăn uống hợp lý với những phụ nữ có tiểu đường thai kỳ cần kết hợp với việc tập luyện thể dục nhẹ nhàng để duy trì trọng lượng cơ thể, giúp thư giãn, thoải mái tốt cho mẹ và em bé.
Trường hợp nhẹ có thể chỉ cần dùng ăn uống để chữa trị. Trường hợp nặng cần dùng thêm thuốc để chữa, món ăn chỉ là phụ trợ, nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng của mẹ và con.
Khi những thay đổi trong dinh dưỡng không đủ để kiểm soát lượng đường trong máu (chiếm khoảng 10-12% thai phụ bị tiểu đường), bạn cần phải dùng thuốc. Bác sĩ sẽ kê đơn thuốc hoặc tiêm insulin cho bạn. Bạn có thể tham khảo thêm về một số bài thuốc nam cũng giúp bà bầu kiểm soát tiểu đường rất hiệu quả.
Tìm hiểu thêm:

Chế độ ăn cho bệnh nhân tiểu đường

Tiểu đường còn được gọi là đái tháo đường là do trong cơ thể thiếu hoặc không có nội tiết tố insulin. Chế độ ăn kiêng giữ vai trò quan trọng trong việc điều trị bệnh tiểu đường. 

Bệnh tiểu đường có thể được điều trị bằng chế độ ăn trong trường hợp tiểu đường (đái đường) nhẹ, tiểu đường tiềm tàng) hoặc kết hợp với các thuốc hạ đường huyết đối với các thể tiểu đường (đái đường) mức độ trung bình và nặng.

Ở bệnh nhân cân nặng bình thường (tiểu đường phụ thuộc Insulin hay không phụ thuộc Insulin), chế độ ăn kiêng phải được chuẩn về chất lượng (hạn chế gluxit và lipit) và cố định về số lượng.
Chế độ ăn kiêng cần được điều chỉnh theo từng bệnh nhân và theo mục tiêu điều trị của bác sĩ.
Trong những ngày đầu hay trong những tuần đầu tiên, thức ăn phải được cân để sau đó bệnh nhân biết cách ước tính trọng lượng của các loại thực phẩm một cách tương đối.

Chế độ ăn đáp ứng nhu cầu năng lượng:  Nhu cầu tính theo thể trạng và tính chất lao động
Thể trạng 
Lao động nhẹ
Lao động vừa
Lao động nặng
Gầy 
35 Kcal/kg  
40 Kcal/kg  
45 Kcal/kg 
Trung bình  
30 Kcal/kg  
35 Kcal/kg  
40 Kcal/kg 
Mập 
25 Kcal/kg  
30 Kcal/kg  
35 Kcal/kg 

Chế độ ăn phải đảm bảo đầy đủ lượng protit, lipit cần thiết cho cơ thể trong đó lượng gluxit chiếm 50% lượng calo chung của khẩu phần, protid chiếm 15%, lipit 35%. 
Một số áp dụng trên thực tế:
- Thực phẩm cung cấp gluxit : Bánh mì 40g, gạo 25g, mì sợi 30g, khoai tây 100g, khoai mì tươi 60g, đậu 40g, 1 trái cam vừa, 1 trái chuối vừa, 1 trái táo, 100g nho, 250g dâu tây, 1 trái thơm, 1 trái xoài vừa đều tương đương với 20g gluxit.
- Thực phẩm cung cấp protit: 100g thịt nạc tương đương với 15-18g protit
- Thực phẩm cung cấp lipit: 100g dầu ăn tương đương với 90-100g lipit. 

1. Đối với thức ăn chứa tinh bột: 
Nên ăn các loại bánh mì không pha trộn với phụ gia như bánh mì đen, gạo lứt, khoai tây, khoai sọ... lượng tinh bột đưa vào cơ thể người tiểu đường nên bằng khoảng 50-60% người thường. Sử dụng thường xuyên các loại ngũ cốc thô, chà xát ít vì lớp vỏ có chứa nhiều Vitamin và khoáng chất có lợi cho sức khỏe. Phương thức chế biến chủ yếu là luộc, nướng hoặc hầm chứ không nên chiên xào. 

2. Đối với chất đạm:

han-che-an-do-hop-khong-tot-cho-nguoi-benh-tieu-duong
Trong đồ hộp chứa các chất không tốt cho bệnh tiểu đường
Hạn chế tối đa thịt hộp, patê, xúc xích... thay vào đó hãy ăn cá, trứng sữa, các sản phẩm chế biến từ sữa, đậu... nên ưu tiên cá mòi và cá chích vì trong hai loại cá này có chứa chất béo có lợi cho việc chống lại bệnh tim mạchung thư. Người tiểu đường (đái đường) có thể ăn các loại thịt lợn, thịt bò đã lấy sạch mỡ. Tránh tuyệt đối da gà, da vịt bởi nó có chứa rất nhiều cholesterol. Cũng như thực phẩm chứa tinh bột, nên chọn cách chế biến là luộc, kho, nướng hơn là chiên. 

3. Đối với chất béo: 
Phải hết sức hạn chế mỡ, các bác sĩ khuyến cáo lượng cholesteron đưa vào phải dưới 300mg mỗi ngày và lượng mỡ bão hòa phải thay bằng các loại dầu thực vật như dầu đậu nành, dầu olive, dầu mè 

4. Rau, trái cây tươi: 
Một ngày bệnh nhân tiểu đường (đái đường) nên ăn khoảng 400 gram rau và trái cây tươi, rau quả tươi vừa có tác dụng chống lão hóa, vừa là thức ăn bổ sung vitamin, muối khoáng tốt nhất. Nên ăn cả xác hơn là ép lấy nước uống, chất xơ ở rau quả là thành phần quan trọng làm giảm đường, làm chậm hấp thu đường và đỡ tăng đường sau khi ăn. Tuy nhiên, không phải loại trái cây nào cũng tốt, người mắc bệnh tiểu đường phải tránh các loại trái cây ngọt như nho, xoài, na, nhãn... 

5. Chất ngọt 
Chất ngọt là nguyên nhân trực tiếp gây bệnh đái tháo đường, nó làm trầm trọng thêm quá trình bệnh lý, tăng các biến chứng nặng nề của bệnh. Lời khuyên của bác sĩ là tránh xa tuyệt đối các loại bánh kẹo, nước ngọt có ga, rượu... Bệnh nhân tiểu đường nên sử dụng các chất ngọt nhân tạo có thể thay đường trong nước uống như Aspartam và sacharine vừa giúp làm giảm lượng đường ăn vào mà vẫn giữ được ngon miệng. 
Giữ vững thành phần và thời gian ăn là quan trọng, kết hợp với thể dục thể thao thường xuyên chính là phương pháp điều trị bệnh hiệu quả nhất. Tuy nhiên, chế độ ăn cụ thể phải dựa trên từng bệnh nhân, cân nặng, lượng đường trong máu, bệnh đã có các biến chứng hay chưa. Do vậy cần tham khảo ý kiến của bác sĩ đang theo dõi và điều trị.

Ăn kiêng như thế nào?

-Thực phẩm cấm: Đường, mía, tất cả các loại sữa chế biến, cà phê, kẹo, đá chanh, trái cây đóng hộp, nước quả ép, kẹo, mứt, chè, mỡ.

-Thực phẩm hạn chế: Cơm, mì xào, hủ tiếu, bánh canh, bánh mì, các loại khoai ( khoai lang, khoai mì...), bánh bích qui, trái cây ngọt.

-Thực phẩm không hạn chế: Thịt, tôm, cá, cua, mắm, rau, tất cả các loại đậu. 

hoa-qua-tot-cho-benh-tieu-duong
Hoa quả tốt cho bệnh tiểu đường
Các thực phẩm như trái cây (nhất là lê, táo), rau, đậu, ngũ cốc có thể cung cấp cho cơ thể một lượng đường chậm (tức đường phải qua quá trình tiêu hóa mới trở thành đường hấp thu vào cơ thể) điều đó sẽ giúp cho lượng đường trong máu không quá cao hoặc quá thấp đồng thời cung cấp chất xơ có ích và chất khoáng chứa vcom kiểm soát lượng đường trong máu.
Ở bệnh nhân tiểu đường, đường huyết thường tăng cao sau bữa ăn. Vì thế nên cho bệnh nhân ăn nhiều lần và phân bố lượng calo mỗi bữa cho thích hợp.

Nếu cần:
- 1200-1600 Kcalo/ngày thì nên chia ba bữa theo tỉ lệ 1/3 - 1/3 - 1/3
- 2000-2500 Kcalo/ngày thì nên chia bốn bữa theo tỉ lệ 2/7 - 2/7 - 2/7 - 1/7
- trên 2500 Kcalo/ngày thì nên chia năm bữa theo tỉ lệ 2/9 - 2/9 - 2/9 - 2/9 - 1/9

Trường hợp đang dùng thuốc hạ đường huyết thì nên ăn trước khi ngủ hay thêm bữa vào những bữa ăn chính.
Các thực phẩm giàu chất xơ sẽ làm giảm đỉnh cao đường huyết sau khi ăn và có thể kéo dài sự hấp thu của chất đường. Chất xơ cũng còn có tác dụng giữ nước, hấp thu axit mật, thường có trong cám ngũ cốc, khoai tây, rau xanh, trái cây nhất là các loại họ đậu. 
Vì thế người ta khuyên nên ăn gạo không chà kỹ quá. Nên hạn chế rượu vì rượu có thể thúc đẩy hạ đường huyết trên bệnh nhân đang điều trị với thuốc hạ đường huyết.

Cách đơn giản phòng ngừa bệnh tiểu đường

Bệnh tiểu đường ngày càng gia tăng khiến sức khỏe người bệnh giảm sút và mất nhiều chi phí để điều trị. Tuy nhiên, bạn có thể tự chăm sóc cơ thể để ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh.
Dưới đây là một số cách thông thường hữu ích cho bạn:
Giảm cân: Những người thừa cân giảm tới 70% nguy cơ mắc bệnh tiểu đường nếu họ giảm 5% trọng lượng cơ thể, ngay cả khi không luyện tập thể dục.
Ăn nhiều quế: Các nhà nghiên cứu Đức phát hiện ra rằng ăn 1 gram quế mỗi ngày giảm 10% lượng đường trong máu. Các hợp chất trong quế có thể kích thích hoạt động của enzyme, giúp giảm lượng đường trong máu.
Tập thể dục thường xuyên: hãy luyện tập thể dục đều đặn ngay cả khi bạn không thực hiện chế độ giảm cân. Theo một nghiên cứu mới cho thấy, nếu đổ mồ hôi nhiều hơn 1 lần trong 1 tuần có thể giảm 30% nguy cơ mắc bệnh tiểu đường. Khi luyện tập thể dục, cơ thể sẽ sử dụng hormore insulin hiệu quả hơn do số lượng insulin trên tế bào gia tăng.

tap-the-duc-thuong-xuyen-giup-ngan-ngua-benh-tieu-duong
Tập thể dục thường xuyên giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường
Thư giãn: khi bạn căng thẳng, cơ thể sẽ khó tự kiểm soát, tim đập nhanh hơn, hơi thở không đều đặn, đặc biệt là làm tăng lượng đường trong máu. Do đó, bạn nên dành thời gian để thư giãn sau một ngày dài làm việc mệt mỏi.
Uống cà phê: Các nhà nghiên cứu tại trường Đại học Y tế công cộng Harvard cho biết, những người uống cà phê nhiều hơn 6 ly nhỏ mỗi ngày, có khả năng giảm 29-54% nguy cơ mắc bệnh tiểu đường tuýp 2. Chất caffeine có trong cà phê thúc đẩy sự trao đổi chất. Cà phê cũng chứa nhiều kali, magiê, và chất chống oxy hóa giúp tế bào cơ thể hấp thụ đường.
Lập gia đình: theo một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Diabetes Care, phụ nữ độc thân có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường cao gấp 2,5 lần so với phụ nữ lập gia đình.

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2015

Những món ăn đơn giản chữa bệnh đái tháo đường

Đái tháo đường là bệnh do rối loạn chuyển hóa carbohydrat khi hormon insulin của tụy bị thiếu hay giảm tác động trong cơ thể, biểu hiện bằng mức đường trong máu luôn cao.Bệnh  dẫn đến biến chứng như bệnh mạch vành, tai biến mạch máu não, mù mắt, suy thận, liệt dương…

 Tiểu đường, đái tháo đường, trị bệnh tiểu đường, trị đái tháo đường, bài thuốc dân gian
Ảnh minh họa
Chế độ ăn uống khoa học hợp lý là nền tảng cho kế hoạch điều trị tiểu đường. Chế độ ăn hợp lý giúp cho bệnh nhân ổn định mức đường trong máu, giảm được liều thuốc cần sử dụng, ngăn chặn hoặc làm chậm xuất hiện các biến chứng, kéo dài tuổi thọ bệnh nhân. Chế độ ăn hợp lý còn giúp bệnh nhân cảm thấy thoải mái, tự tin trong cuộc sống, ít có cảm giác bị tách biệt trong đời sống xã hội.
Chế độ ăn kiêng giữ một vai trò quan trọng trong việc điều trị bệnh tiểu đường. Bệnh tiểu đường có thể được điều trị bằng chế độ ăn trong trường hợp tiểu đường (đái đường) nhẹ, tiểu đường tiềm tàng) hoặc kết hợp với các thuốc hạ đường huyết đối với các thể tiểu đường (đái đường) mức độ trung bình và nặng.
Hãy áp dụng các những món ăn rất đơn giản dưới đây để trị căn bệnh này nhé!

Canh khổ qua

Khổ qua 100 g. Rửa sạch khổ qua, xắt lát, cho vào nồi, đổ nước vừa phải nấu thành canh. Chia canh ra 2 lần ăn trong ngày. Công hiệu của món này làm giảm đường huyết, phù hợp trong chứng đái tháo đường bị nhẹ.

Canh đậu đỏ, bí đao

Đậu đỏ và bí đao lượng đủ ăn trong một bữa. Cho đậu đỏ vào cùng nước nấu gần chín, sau mới cho bí đao vào nấu nhừ, uống nước và ăn hết cái, ngày ăn 2 lần, có thể dùng thường xuyên. Công hiệu của món này là lợi tiểu, giải độc nên thích hợp trong chứng đái tháo đường sinh sưng phù, da ghẻ lở, mụn nhọt khó lành.

Nấm xào thịt nạc

nam-xao-thit-nac-thich-hop-voi-chung-benh-dai-thao-duong
Nấm xào thịt nạc thích hợp với chứng bệnh đái tháo đường
Nấm tươi 250 g, thịt lợn nạc 50 g, dầu mè 25 g, rượu gạo một chút, muối vừa đủ. Rửa sạch nấm, thịt lợn nạc xắt lát, cho vào xào chung với dầu mè, nêm gia vị vừa ăn. Dùng làm thức ăn trong bữa cơm.
Công hiệu của món này là dưỡng khí, bổ huyết, tăng sức đề kháng cho cơ thể. Thích hợp với bệnh chứng đái tháo đường có gan nhiễm mỡ mãn tính, khí huyết hư nhược.
Ngoài ra, bạn có thể lấy cọng rau muống 60g, râu bắp 30g. Cả hai rửa sạch, đem nấu chung với 1 lít nước. Uống thay nước trong ngày.
Hoặc 500g rau cần tây rửa sạch, giã nát, thêm vào 200ml nước chín, vắt lấy nước cốt, đem uống mỗi ngày, cũng có tác dụng trong hỗ trợ điều trị căn bệnh này!

Bài thuốc dân gian chữa bệnh đái tháo đường từ rau cần ta

Rau cần có tác dụng chữa bệnh tiểu đường. Theo Đông y học: Rau cần có vị  ngọt, cay; tính mát; vào các kinh Phế và Vị. Có tác dụng thanh nhiệt, bình can, khư phong, lợi thấp, tỉnh não kiện thần, nhuận phế chỉ khái.

1. Chữa đái tháo đường

Rau cần tươi 60 g, gạo tẻ 70 ~ 100 g.  
Cách dùng: Rau cần rửa sạch, thái nhỏ, cùng gạo cho vào nồi, đổ khoảng 600 ml nước nấu thành cháo; ngày ăn 2 lần vào buổi sáng và buổi tối. Ăn khi cháo còn nóng, không nên để lâu. 
Cháo này công dụng bổ thận, thanh nhiệt, lợi tiểu, bình can nhưng tác dụng chậm – phải dùng lâu mới kiến hiệu (Thực dưỡng bổ ích bí dược lương phương).
rau cần ta chữa đái tháo đường
Rau cần ta chữa đái tháo đường
2. Chữa suyễn thở do viêm khí quản mạn tính
Rễ rau cần 15g, kinh giới tuệ (hoa kinh giới) 6g, hoa tiêu 10 hạt, phục linh 9g, đường phèn 12g. 
Cách dùng: Rễ rau cần,  hoa tiêu và  phục linh sắc trước, đun sôi trong 10 phút, cho thêm kinh giới tuệ vào đun sôi thêm trong 5 phút, chắt lấy nước, hòa 6g đường phèn vào uống.
Nước thứ hai đun sôi trong 10 phút, chắt nước pha nốt 6g đường phèn vào uống. Liệu trình 10 ngày (Tố thực phổ hòa trung thảo dược phương).
3. Chữa ho gà (bách nhật khái)
Dùng toàn cây rau cần 500g, rửa sạch, vắt lấy nước cốt, thêm vài hạt muối vào, hấp cách thủy, chia 2 phần uống vào sáng sớm và buổi tối; liên tục trong nhiều ngày (Thực vật dược dụng chỉ nam).
4. Chữa ho do lao phổi
Rễ rau cần 30, rửa sạch, thái nhỏ, trộn với mật hoặc đường đỏ, xào chín, ăn, ngày 2-3 lần (Tố thực phổ hòa trung thảo dược phương).
5. Chữa cao huyết áp, tinh thần hưng phấn, đầu trướng đau, mặt đỏ bừng
Rau cần tươi 250 g, rửa sạch, chần nước sôi khoảng 2 phút, thái nhỏ, giã nát vắt lấy nước, mỗi lần uống 1 chén con, ngày 2 lần. 
Có tác dụng làm hạ huyết áp và giải trừ trạng thái căng thẳng, khó chịu. Nếu không có rau cần tươi, có thể dùng 30-60g rau cần khô (có thể thêm 12g khổ qua – mướp đắng) sắc uống. 
Cách chế rau cần khô: Rau cầu tươi chần qua nước sôi, phơi trong bóng mát cho khô, cất đi dùng dần (Tố thực phổ hòa trung thảo dược phương).

rau-can-ta-chua-dai-thao-duong
Bài thuốc dân gian từ cây rau cần ta 
6. Chữa phản vị ẩu thổ – ăn vào nôn ngược trở ra
Rễ rau cần tươi 30g, cam thảo 15g, thêm nước vào đun sôi khoảng 10 phút, chắt lấy nước, đập 1 quả trứng gà vào, ăn trứng và uống nước (Tố thực phổ hòa trung thảo dược phương).
7. Chữa viêm gan mạn tính
Rau cần tươi 200g, rửa sạch, giã, vắt lấy nước cốt, thêm 50g mật ong vào trộn đều, uống ngày 2 lần; liên tục trong nhiều ngày (Thực vật dược dụng chỉ nam).
8. Chữa viêm phế quản
Dùng gốc rau cần – liền cả rễ 100g, vỏ quít 9g, kẹo mạch nha (di đường)  30g. 
Cách dùng: Trước hết cho kẹo mạch nha vào nồi đun sôi, tiếp đó cho gốc rau cần và vỏ quít vào sao cháy, đổ  thêm nước vào sắc lấy nước uống  trong ngày (Thực vật dược dụng chỉ nam).
9. Chữa đi tiểu ra máu (niệu huyết)
Dùng rau cần tươi giã vắt lấy nước cốt uống, ngày 3 lần,  mỗi lần một chén con (Thánh huệ phương).
10. Chữa  tiểu tiện nhỏ giọt, đau nhức
Rau cần tươi bỏ lá, giã vắt lấy nước cốt, hòa với đun sôi để nguội uống (Thánh huệ phương). Hoặc dùng: Rau cần tươi 50-100g, sắc nước uống nhiều lần trong ngày, tiểu tiện sẽ thông suốt (Hồ Nam dược vật chí).
11. Chữa mất ngủ
Gốc rau cần liền cả rễ 90g, toan táo nhân 9g (sao cháy đen), sắc nước uống trong ngày (Tố thực phổ hòa trung thảo dược phương).
12. Chữa nhức đầu
Gốc rau cần liền cả rễ một nắm to, rửa sạch, giã nát, sào với trứng gà ăn ngày 2 lần (Thực vật dược dụng chỉ nam).

13. Chữa phong thấp, khớp xương chân tay viêm tấy, đau nhức
Dùng rau cầu tươi giã vắt lấy nước, thêm đường trắng vào đun sôi lên, uống thay trà trong ngày (Thực vật dược dụng chỉ nam).
14. Chữa phụ nữ kinh nguyệt trước kỳ
Dùng rau cần khô 100g, sắc nước uống thay trà trong ngày, uống thường xuyên sẽ kiến hiệu (Tố thực phổ hòa trung thảo dược phương).
15. Chữa sản hậu xuất huyết
Rễ rau cần 60g, trứng gà 2 quả, cùng luộc chín, ăn trứng gà và uống nước luộc (Tố thực phổ hòa trung thảo dược phương).
16. Chữa sản hậu đau bụng
Rau khô 60g, sắc  lấy nước, thêm chút đường đỏ hoặc rượu trắng vào uống lúc đói bụng (Thực vật dược dụng chỉ nam)
17. Chữa quai bị
Rau cần tươi giã nát, trộn với dầu vừng hoặc dầu lạc đắp vào chỗ có bệnh (Hồ Nam dược vật chí).

rau-can-ta-chua-dai-thao-duong
Bài thuốc dân gian từ cây rau cần ta  

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2015

Dấu hiệu nhận biết bệnh tiểu đường

Tiểu đường là một trong những căn bệnh phổ biến và rất nguy hiểm do những biến chứng mà nó gây ra. Các dấu hiệu dưới đây sẽ giúp chúng ta phát hiện và phòng ngừa sớm bệnh tiểu đường để có phương hướng điều trị kịp thời 
Hay khát nước và đi tiểu nhiều 

khat-nuoc-dau-hieu-benh-tieu-duong
Khát nước nhiều là biểu hiện của bệnh tiểu đường 
Khi mức đường huyết trong máu cao, cơ thể sẽ lấy nước từ các tế bào pha loãng đường có trong máu, từ đó kích thích não tạo cảm giác khát để bù nước cho cơ thể. Vì vậy, người mắc bệnh đái tháo đường thường uống rất nhiều nước. Bệnh nhân thường đi tiểu thường xuyên, nhất là đi tiểu đêm bởi thận phải hoạt động mạnh để loại bỏ lượng đường dư thừa trong máu.
Thường xuyên mệt mỏi, dễ cáu gắt
Khi mắc đái tháo đường, bệnh nhân không còn khả năng sử dụng glusose có trong thức ăn để phục vụ cho các hoạt động hàng ngày mà phải lấy trực tiếp năng lượng từ mô mỡ của cơ thể, điều này khiến người bệnh thường xuyên mệt mỏi. Bên cạnh đó, việc dậy đêm thường xuyên để đi tiểu sẽ làm giảm số lượng và chất lượng giờ ngủ nên dễ nảy sinh cáu gắt.

Ăn nhiều nhưng nhanh đói
Insulin ngoài chức năng chuyển glucose thành năng lượng, nó cũng có tác dụng kích thích cảm giác thèm ăn và ăn nhiều. Tuy nhiên, người bệnh lại rất nhanh đói bởi khi chỉ số đường huyết giảm, cơ thể nghĩ rằng nó không được ăn, từ đó kích thích cảm giác đói để nài xin thêm glucose cần cho các hoạt động của tế bào.

Tụt cân nhanh chóng
Mặc dù ăn rất nhiều nhưng người mắc đái tháo đường lại tụt cân rất nhanh (từ 5 – 10 kg trong vòng 2 – 3 tháng). Nguyên nhân được lý giải là, họ phải sử dụng năng lượng chuyển hóa từ các mô mỡ, đồng thời lượng đường có trong thức ăn cơ thể lại không thể sử dụng và được đào thải thông qua đường nước tiểu.

Vết thương lâu lành
Lượng đường có trong máu quá cao gây khó khăn cho hoạt động của bạch cầu có nhiệm vụ bảo vệ cơ thể chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn, vi trùng và dọn dẹp các mô, tế bào chết. Song song đó, quá nhiều glucose di chuyển trong các tĩnh mạch, động mạch sẽ gây hư hại các mạch máu, khiến cho máu khó lưu thông đến các vùng khác nhau của cơ thể. Vì vậy, các vết thương hở sẽ trở nên lâu lành và rất dễ bị nhiễm trùng.

Ngứa ran và tê bì
Đái tháo đường sẽ “phá hoại” các dây thần kinh trong cơ thể, gây ra hiện tượng ngứa ran và tê bì ở bàn tay, bàn chân, cùng với cơn đau nóng bỏng hoặc sưng.

Nhìn mờ

Khi mắc đái tháo tháo đường, thị lực của người bệnh sẽ giảm đi với dấu hiệu nhìn hình ảnh bị nhòe, không rõ nét. Đó là vì khi lượng đường trong máu cao làm thay đổi hình thái của thủy tinh thể và mắt. Nếu không điều trị kịp thời, glucose sẽ làm thay đổi tròng mắt vĩnh viễn, từ đó có thể gây mù lòa.