Hiển thị các bài đăng có nhãn benh-thuong-gap. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn benh-thuong-gap. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2015

Những điều cần biết về bệnh gan nhiễm mỡ

Gan có nhiều chức năng quan trọng, trong đó có chức năng tích lũy và chuyển hóa các chất béo.Gan nhiễm mỡ là sự tích lũy bất thường Triglycerid trong tế bào gan > 5% trọng lượng gan hoặc quan sát dưới kính hiển vi thấy > 5% TBG chứa mỡ.

I. SINH LÝ BỆNH:
- Giảm sự oxy hóa acid béo trong tế bào gan
- Gia tăng tổng hợp acid béo trong gan, hoặc tăng lượng acid béo đến gan từ các mô mỡ, từ lượng mỡ ở ruột gia tăng, nhất là sau khi ăn quá nhiều chất béo động vật.
- Thiếu sự kết hợp hay bài xuất triglyceride, cũng như VLDL
II. PHÂN LOẠI:
- Theo nguyên nhân: Gan nhiễm mỡ do rượu và Gan nhiễm mỡ không do rượu
- Theo mô học: Gan nhiễm mỡ đơn thuần và Viêm gan nhiễm mỡ
- Loại nhẹ: Hàm lượng mỡ chiếm 5-10% trọng lượng gan, hay 5-10% TBG chứa hạt mỡ.
- Loại vừa: Hàm lượng mỡ chiếm 10-25% trọng lượng gan, hay 10-25 % TBG chứa hạt mỡ.
- Loại nặng: Hàm lượng mỡ chiếm trên 30% trọng lượng gan, hay hơn 30 % TBG chứa hạt mỡ.
dieu-can-biet-ve-gan-nhiem-mo
Ảnh minh họa

III. CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY GAN NHIỄM MỠ:
1. Mãn tính:
- Nghiện rượu bia.
- Béo phì trẻ em và người lớn
- Tiểu đường type II
- Tăng Lipid máu
- Thiếu dinh dưỡng - protein năng lượng, nhịn đói
- Nuôi ăn qua đường tĩnh mạch kéo dài
- Phẫu thuật nối Hồi Hỗng tràng (trong điều trị béo phì)
- Những rối loạn di truyền về oxy hóa acid béo ở ty lạp thể
- Các bệnh Viêm gan siêu vi B, C, bệnh Wilson
2. Cấp tính:
- Gan nhiễm mỡ trong thai kỳ
- H/C Reye
- Bệnh ói mửa Jamaica do trẻ em ăn quả Akee sống
- Các chất độc dạng hợp chất (carbon tetrachloride, trichloroethylene, phosphorus, fialuridine).

IV. DẤU HIỆU BỆNH:
- Dấu hiệu nhẹ: Phần lớn không có triệu chứng, chỉ phát hiện khi khám sức khỏe tổng quát định kỳ. Có thể biểu hiện mệt mỏi, khó chịu vùng thượng vị (P), tức hai hạ sườn, đầy bụng.
- Dấu hiệu nặng: Vàng da mắt, đau bụng, buồn nôn, nôn, gan to nhẹ. Ở những bệnh nhân GNM do những nguyên nhân khác nhau có kèm theo những triệu chứng toàn thân và dấu hiệu đặc trưng của những nguyên nhân đó.
- BIẾN CHỨNG:
Mỡ là chất gây độc cho TBG có thể trực tiếp làm chết TBG theo chương trình hoặc gián tiếp làm TBG nhạy cảm với 1 số chất độc khác, mỡ gây viêm nhiễm hoại tử TBG, rối loạn vi tuần hoàn ở gan, kích thích tiến trình xơ hóa.
* Gan nhiễm mỡ đơn thuần, nếu điều trị tích cực, loại bỏ nguyên nhân, tiên lượng lành tính.
* Viêm gan nhiễm mỡ có thể gây xơ gan (# 20%), suy gan, HCC, tử vong.

V. ĐIỀU TRỊ:
- Kiêng bia rượu, nếu là GNM do rượu thì có thể sẽ mất sau 1 - 4 tuần
- Chế độ ăn: Hạn chế ăn thực phẩm giàu cholesterol như da và nội tạng động vật, lòng đỏ trứng, hạn chế đường.Nên ăn nhiều rau (tối thiểu 300g/người/ngày) như cải xanh, rau cần tây, rau diếp cá, rau ngót. Quả chín tươi (200g/người/ngày) lưu ý các loại quả chanh, cam, quýt, bưởi. Một số thức ăn có thể xem là “thuốc” giảm mỡ như dầu đậu nành, đậu phụng, nấm hương, nhộng tằm, lá trà, lá sen, hoa hòe, bắp chuối, bắp ngô. Không nên ăn tối quá khuya (sau 19 giờ) Khoảng cách bữa ăn tối trước khi đi ngủ khoảng 3 tiếng đồng hồ.
- Luyện tập thể dục 30 phút/ngày, đi bộ, thể thao
- Điều trị các Rối loạn chuyển hóa: Tiểu đường (Metformin), tăng Lipid máu (Statin,Omega 3), béo phì, các bệnh viêm gan siêu vi C...
- Ngưng ngay các thuốc độc cho gan, gây tích lũy mỡ trong gan, thay các thuốc an toàn hơn theo chỉ dẫn của bác sĩ

VI. PHÒNG BỆNH:
- Chế độ ăn uống hợp lý
- Luyện tập cơ thể thường xuyên
- Kiêng bia, rượu
- Dùng thuốc phải theo hướng dẫn của bác sĩ
- Khám sức khỏe định kỳ.

Giật mình với những bệnh liên quan đến lá gan của bạn


Ngày nay con người phải đối mặt với môi trường ô nhiễm, thực phẩm chứa chất độc hại. Đây chính là nguy cơ đe dọa sức khỏe con người và gây ra bệnh nguy hiểm cho lá gan của cơ thể người.

Bệnh về gan ngày càng gia tăng:
Theo những thống kê gần đây cho thấy, nước ta có tỉ lệ mang virus viêm gan B rất cao khoảng 15-20% (có khoảng 10 triệu người đang bị nhiễm bệnh). Theo TS BS Bùi Hữu Hoàng, Khoa Tiêu hóa – Gan mật BV ĐHYD TPHCM, Việt Nam thuộc vùng dịch tễ lưu hành của viêm gan virus đặc biệt đối với siêu vi A và B. Ở các nước đang phát triển như nước ta hơn 90% dân số đều đã có nhiễm HAV. Bệnh thường tự giới hạn , khoảng 10% rơi vào mãn tính .Trẻ em tuổi càng nhỏ nhiễm virus tỉ lệ rơi vào mãn tính càng cao khoảng,hơn 90% nếu nhiễm vào lúc chu sinh. Khoảng 40% người viêm gan siêu vi B mãn chết vì biến chứng xơ gan ,ung thư gan. Về biến chứng ung thư gan, thông tin mới nhất tại Hội nghị Gan mật Châu Á Thái Bình Dương tại Bắc Kinh diễn ra vào cuối tháng 3 năm 2010 cũng cho biết,ung thư gan đứng hàng thứ 5 trong các ung thư ở nam, đứng hàng thứ 8 ung thư ở nữ ; 80% xảy ra ở các nước đang phát triển, nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ hai trên thế giới và đa phần chẩn đoán đã quá muộn. Nguyên nhân chính là do virus viêm gan B ,C và tỉ lệ ung thư gan ngày càng tăng; do vậy điều trị hiệu quả viêm gan B , C là ngăn chặn phần lớn ung thư gan.

Trong những năm gần đây, mỗi năm, Việt Nam có đến 10.000 ca mắc bệnh mắc bệnh mới, và trở thành quốc gia có tỉ lệ người mắc bệnh ung thư gan hàng đầu thế giới. Phần lớn các bệnh nhân lại phát hiện bệnh trong giai đoạn trễ nên việc chữa trị không còn hiệu quả. Theo “Ghi nhận ung thư quần thể” tại TP.HCM 2006, ung thư gan đứng hàng thứ 1 ở nam giới với xuất độ 24,2/100.000 dân và đứng hàng thứ 5 ở nữ giới với xuất độ 6,2 / 100.000 dân.Tại Bệnh viện Ung Bướu TP.HCM, mỗi năm tiếp nhận khoảng 500 ca ung thư gan mới.

Bên cạnh bệnh viêm gan và ung thư gan, tình trạng gan nhiễm mỡ hay xơ gan cũng đáng báo động. Nguyên nhân là do thói quen ăn uống không khoa học, ăn quá nhiều chất béo, thừa chất cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến căn bệnh gan nhiễm mỡ. Tại các nước trên thế giới, tỉ lệ mắc bệnh gan nhiễm mỡ chiếm từ 10-24% dân số. Ở Việt Nam, do thói quen ăn uống và sinh hoạt không hợp lý, số bệnh nhân mắc bệnh gan nhiễm mỡ ngày càng gia tăng, đặc biệt ở các đối tượng ít vận động, nhân viên văn phòng, người nghiện bia rượu.v.v...
cac-benh-lien-quan-den-gan
Nhiều bệnh liên quan đến gan nguy hiểm cho cơ thể

Tự phòng ngừa bệnh gan như thế nào?

Theo các chuyên gia y tế về Tiêu hóa – Gan mật, mặc dù có nhiều bệnh gan không thể phòng ngừa được , con người vẫn có nhiều cách để bảo vệ gan ít tổn thương nhất. Không nên uống rượu nhiều nhất là phụ nữ. Những người bệnh gan nên kiêng rượu, bia hoàn toàn. Những người trong gia đình có người bệnh gan ứ sắt hay xơ gan mật nguyên phát nên test máu thường xuyên để kiểm tra bệnh này, nếu có bệnh nên điều trị càng sớm càng tốt. Nên giữ cân nặng trung bình , không ăn nhiều chất béo . Các thuốc có độc cho gan nên tránh . Không nên hút thuốc lá vì làm tăng nguy cơ ung thư gan và làm tăng thêm độc tính các thuốc có hại cho gan. Bên cạnh đó, tránh dùng quá nhiều thuốc giảm đau hay kết hợp nhiều loại thuốc bởi khi đó sẽ làm cho các tế bào và cơ quan của gan mệt mỏi vì phải làm việc quá nhiều, dẫn đến sinh bệnh. Tốt nhất là uống thuốc theo đơn và không được tự ý mua thuốc điều trị. cần thực hành tốt vệ sinh, an toàn tình dục, không dùng chung bơm kim tiêm, tiêm vaccine là cách để phòng bệnh viêm gan siêu vi tốt nhất. Với trẻ em thì đảm bảo cho trẻ được tiêm vaccine đúng thời hạn. Có chế độ dinh dưỡng hợp lý. Mặc dù bệnh gan hầu như không do thức ăn gây ra hay có thể ngăn ngừa bệnh bằng con đường ăn uống nhưng có sự tương quan, nhất là bệnh gan nhiễm mỡ thường đi kèm với tình trạng béo phì.

Bệnh viêm gan siêu vi B có thể phát hiện sớm một cách dễ dàng nhờ vào các xét nghiệm máu đơn giản. Việc phát hiện sớm viêm gan B mạn tính giúp gia tăng hy vọng ngăn ngừa biến chứng xơ gan và ung thư gan bằng cách khám sức khỏe định kỳ và điều trị với những loại thuốc đặc trị mới. Và một điều đáng mừng là hiện nay trên thị trường đã có nhiều loại thuốc chăm sóc, bảo vệ cho lá gan có nguồn gốc từ thảo dược, từ những “cây nhà lá vườn” vừa đảm bảo chất lượng, an toàn khi sử dụng và giá cả phù hợp với thu nhập của người Việt nam.

Bí quyết phòng bệnh tiểu đường ai cũng có thể làm được

Để phòng bệnh tiểu đường, các bạn nên hạn chế thời lượng xem tivi và loại bỏ thói quen thức khuya, dậy muộn, chế độ ăn uống và tập luyện thể dục thể thao hợp lý

Ba triệu người ở Anh hiện đang bị bệnh tiểu đường loại 2 và có khả năng tử vong. Điều này gióng lên hồi chuông cảnh báo con người cần phòng bệnh tiểu đường một cách triệt để. Có nhiều cách phòng bệnh mà tất cả mọi người đều có thể làm được, đơn giản nhất là thay đổi lối sống của mình theo hướng tích cực.

Bạn có thể cắt giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh tiểu đường chỉ bằng cách giảm thời gian xem tivi và tránh thức đêm. Những người bị bệnh tiểu đường có nguy cơ bị đột quỵ hay bệnh tim cao gấp 5 lần so với những người khỏe mạnh.

bi-quyet-phong-ngua-benh-tieu-duong
Ảnh minh họa
Trong một nghiên cứu với hơn 3.000 người lớn thừa cân tham gia trong một chương trình phòng chống bệnh tiểu đường ở Mỹ, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng, những người ngồi một chỗ trong nhiều giờ sẽ có khả năng phát triển bệnh tiểu đường cao 3,4% so với những người thường xuyên vận động.

Các nghiên cứu đã kết luận: "Các chương trình can thiệp lối sống trong tương lai nên cân nhắc cả việc giảm thời lượng xem tivi và loại bỏ thói quen ít vận động để phòng bệnh tiểu đường, chứ không chỉ khuyến khích tăng cường hoạt động thể chất".

Trong phần thứ hai của nghiên cứu được thực hiện tại Hàn Quốc, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người thức khuya và dậy muộn có nhiều khả năng phát triển bệnh tiểu đường hơn so với những người dậy sớm - ngay cả khi họ có được cùng một thời lượng giấc ngủ.

Tác giả nghiên cứu, Tiến sĩ Nan Hee Kim nói: "Bất kể lối sống như thế nào, những người thức khuya phải đối mặt với một nguy cơ bị các vấn đề về sức khỏe như bệnh tiểu đường cao hơn những người ngủ sớm, dậy sớm".

Richard Elliott, chuyên gia nghiên cứu tại Tổ chức từ thiện Tiểu đường Anh, cho biết: "Nghiên cứu này càng củng cố thêm minh chứng rằng giảm thời gian ngồi hoặc nằm lì một chỗ sẽ giúp giảm nguy cơ của bệnh tiểu đường".


tap-the-duc-thuong-xuyen-giam-nguy-co-mac-benh-tieu-duong
Tập thể dục thường xuyên giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường

Một số thói quen sống tốt giúp phòng ngừa bệnh tiểu đường:

- Ăn nhiều rau xanh: Ăn nhiều rau giúp bạn ổn định trọng lượng tốt hơn, giảm thiểu lượng mỡ thừa, từ đó kéo theo tác dụng giữ lượng đường trong máu được ổn định.
- Tránh thịt đỏ và thịt chế biến: Thịt đỏ như thịt bò chứa cholesterol khá cao,có thể đặt bạn vào nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường cao hơn.
- Thường xuyên kiểm tra huyết áp và lượng cholesterol: Hiệp hội Tiểu đường Mỹ khuyến cáo huyết áp nên duy trì ở mức thấp hơn 130/80mmHg để ngăn ngừa những biến chứng thường đi kèm bệnh tiểu đường.
- Tăng cường vận động: Vận động giúp cơ thể tăng cường sử dụng hormone insulin một cách hiệu quả hiệu quả. Hơn nữa, tập thể dục thường xuyên sẽ giúp bạn giảm cân, làm giảm nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường.

Các thuốc điều trị bệnh đái tháo đường

Đái tháo đường là bệnh chuyển hoá có đặc điểm là tăng glucose máu, hậu quả của sự thiếu hụt bài tiết insulin. Tăng glucose máu thường kết hợp với sự huỷ hoại, sự suy yếu chức năng của nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu.

Với người bệnh đái tháo đường, việc kiểm soát đường máu tốt là vô cùng quan trọng! Nếu như việc thay đổi thói quen ăn uống và luyện tập chưa kiểm soát tốt được mức đường máu thì cần phải kết hợp với dùng thuốc, việc chỉ định dùng thuốc là do bác sĩ điều trị của bạn quyết định.

Thuốc điều trị bệnh đái tháo đường có thuốc uống hạ đường máu và insulin để kiểm soát lượng đường khi thực hiện chế độ ăn và tập thể dục không kiểm soát được đường máu.


Mục tiêu điều trị: Mục tiêu kiểm soát đường máu theo ADA 2010
- HbA1c < 7% được coi là mục tiêu chung cho cả ĐTĐ týp 1 và týp 2.
- Glucose máu lúc đói nên duy trì ở mức: 3,9 - 7,2 mmol/L (70 - 130mg/dl).
- Glucose máu sau ăn 2 giờ <10mmol/L (<180mg/dl).

Sử dụng Insulin như thế nào
Cơ sở sử dụng insulin: Người bệnh đái tháo đường týp 1 phụ thuộc vào insulin ngoại sinh để tồn tại. Ngược lại, người bệnh đái tháo đường týp 2 không phải phụ thuộc insulin ngoại sinh để tồn tại. Nhưng sau một thời gian mắc bệnh nhiều người đái tháo đường týp 2 có giảm sút khả năng sản xuất insulin, đòi hỏi phải bổ sung insulin ngoại sinh để kiểm soát glucose máu một cách đầy đủ.

Phân loại Insulin: Sử dụng insulin để đạt được hiệu quả kiểm soát chuyển hoá glucose tốt nhất đòi hỏi sự hiểu biết về khoảng thời gian tác dụng của các loại insulin khác nhau.

Loại Insulin
Tên biệt dược
Đường tiêm
Màu sắc
Tác dụng nhanh
Apart (NovoLog)
Lispro ( Humalog)
Tiêm tĩnh mạch/
Tiêm dưới da
Trong
Tác dụng ngắn
Insulin Actrapid HM
Humulin R
Scilin R
Tiêm tĩnh mạch/
Tiêm dưới da
Trong
Tác dụng trung bình
Insulatard HM
Humulin N
Scilin N
Tiêm dưới da
Đục
Tác dụng kéo dài
Glargin (Lantus)
Determir (Levermir)

Tiêm dưới da
Trong
Hỗn hợp
Insulin Mixtard HM 30/70
Humulin M70/30
Scilin M30
NovoMixt
Tiêm dưới da
Đục


Liều tiêm Insulin: bất kỳ phác đồ điều trị nào thích hợp phải được xem xét cho từng đối tượng bệnh nhân riêng biệt và phải được đánh giá lại liên tục. Thông thường phác đồ đơn giản nhất đạt được mục tiêu điều trị sẽ được lựa chọn để áp dụng. Hầu hết người bệnh đái tháo đường týp 1 cần ít nhất 2 lần tiêm insulin một ngày và nhiều người cần đến 3 - 4 lần tiêm một ngày. Trường hợp cần điều trị với 1 hoặc 2 mũi tiêm hàng ngày, thường kết hợp với các thuốc hạ glucose máu bằng đường uống ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2.

Quy trình tiêm: Insulin nên được tiêm vào tổ chức dưới da. Người bệnh có thể tự tiêm bằng cách kéo nhẹ da lên và tiêm ở góc 90 độ. Những người gầy hoặc trẻ em có thể dùng kim ngắn hoặc có thể véo da lên và tiêm góc 45 độ để tránh tiêm vào cơ, đặc biệt ở vùng đùi. Sau khi dùng bút tiêm insulin, kim nên lưu lại trong da 5 giây sau khi đã ấn toàn bộ bơm tiêm pittông để đảm bảo cung cấp toàn bộ liều insulin. Tiêm insulin vào tổ chức dưới da của bụng thường được ưa dùng, nhưng cũng có thể tiêm mông, đùi hoặc cánh tay. Không nên sử dụng đường tiêm insulin vào bắp hàng ngày. Thay đổi vị trí tiêm là cần thiết để ngăn ngừa phì đại hoặc teo tổ chức mỡ dưới da tại nơi tiêm. Người ta thường quay vòng trong một vùng (ví dụ quay vòng trong các mũi tiêm có hệ thống trong vùng bụng) hơn là quay vòng trong những vùng khác nhau mỗi lần tiêm. Những vùng phì đại mỡ thường hấp thu insulin chậm hơn.

Bảo quản insulin: Lọ insulin không được sử dụng nên để vào tủ lạnh (ngăn mát). Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp và lắc nhiều có thể làm hỏng insulin. Insulin đang sử dụng có thể giữ ở nhiệt độ phòng để hạn chế gây kích thích vị trí tiêm.

Một số lưu ý khi sử dụng Insulin:
+ Insulin tác dụng nhanh nên được tiêm ngay trước hoặc sau bữa ăn. Insulin tác dụng trung gian hoặc hỗn hợp cần được lăn tròn lọ thuốc trước khi sử dụng.
+ Không được trộn lẫn với bất kỳ loại insulin khác trong cùng bơm tiêm do pH không tương thích.
+ Insulin cũng có thể gây dị ứng với biểu hiện sẩn ngứa trên da, ngứa tại chỗ tiêm insulin.
+ Ngăn ngừa tình trạng hạ đường máu quá mức bằng cách tiêm đúng liều theo chỉ định của bác sĩ và không được bỏ bữa ăn.

Các thuốc viên uống hạ đường máu
Thuốc uống hạ đường máu có thể làm cho tuyến tuỵ tiết nhiều insulin hơn, giúp gan giảm sản xuất đường, làm cho các cơ sử dụng nhiều đường, hoặc làm chậm sự phân huỷ tinh bột thành đường.
Có những thuốc uống nào để điều trị đái tháo đường týp 2? Có các nhóm thuốc uống điều trị đái tháo đường và một số loại thuốc uống kết hợp hai loại thuốc. Mỗi nhóm thuốc có một cách tác dụng khác nhau giúp kiểm soát đường máu ở bệnh nhân đái tháo đường.

Thuốc kích thích tuỵ tiết insulin: Nhóm thuốc này có tác dụng kích thích tuỵ tiết insulin, bao gồm nhóm Sulfonylurrea và nhóm glinides.
Nhóm sulfonylurea có các thuốc như: gliclazid (Diamicron MR 30mg, Diamicron 80mg, Predian 80mg. Glimepirid (Amaryl 2- 4 mg). Glibenclamid (Glibenhexal 3,5mg). Glyburide (1,25/ 2,5/ 5mg). Glipizide (Glucotrol 5/10mg). Thuốc được dùng trước bữa ăn, có thể uống 1 – 2 lần/ngày tùy thuộc từng loại thuốc cụ thể. Tác dụng phụ hay gặp: hạ đường máu quá mức. Không dùng được nhóm thuốc này cho người bị đái tháo đường týp 1, phụ nữ đái tháo đường mang thai, suy gan, suy thận nặng.
Nhóm glinides (Meglitinide): tác dụng của thuốc giống sulfonylureas nhưng ngắn hơn và yếu hơn. Thuốc được hấp thu nhanh qua đường tiêu hoá, và được chuyển hoá hoàn toàn ở gan. Thời gian bán huỷ là dưới 1 giờ, nên gây tăng insulin nhanh và trong thời gian ngắn. Uống thuốc 1-10 phút trước bữa ăn, thường là bữa chính. Hiện nay có một số thuốc như: meglitinide (Starlix), repaglinide (Prandin, Novonorm viên 1 và 2mg). Thuốc có thể dùng được cho bệnh nhân suy thận hoặc bệnh nhân lớn tuổi. Thuốc có thể gây tăng cân, gây hạ đường máu nhưng ít hơn sulfonylurea.
Biguanide: Thuốc duy nhất còn sử dụng làm metformin (1,1-dimethylbiguanide hydrochloride).

- Tác dụng chủ yếu là ức chế sản xuất đường từ gan và tăng tính nhạy cảm của cơ thể đối với insulin.
- Hiệu quả là làm giảm đường máu.
- Thường dùng giữa hoặc sau bữa ăn để tránh tác dụng không mong muốn (như buồn nôn, tiêu chảy, đau bụng có thể xảy ra trong những ngày đầu dùng thuốc).
- Ưu điểm: Metformin không gây tăng cân và có thể cải thiện mức độ cholesterol. Nó không gây ra hạ đường máu khi sử dụng một mình.
- Tác dụng phụ hay gặp là buồn nôn, tiêu chảy, hoặc mất cảm giác ngon miệng. Nhiễm toan lactic là tác dụng phụ nghiêm trọng nhưng rất hiếm.
- Metformin có thể không phù hợp khi bệnh nhân có suy thận, hoặc các bệnh lý về hô hấp nặng, bệnh nhân 80 tuổi trở lên, đang dùng thuốc điều trị suy tim, có tiền sử bệnh gan, uống rượu quá nhiều.
- Có thể điều trị kết hợp với thuốc sulfonylurea hoặc insulin.
Thiazolidinediones
- Thuốc làm tăng nhạy cảm của cơ và tổ chức mỡ với insulin bằng cách hoạt hoá PPARγ, vì vậy làm tăng thu nạp glucose từ máu. Thuốc làm tăng nhạy cảm của insulin ở cơ vân, đồng thời ngăn cản quá trình bài tiết glucose từ gan.
- Loại thuốc chính sẵn có là Pioglitazone, thuốc này có thể dùng đơn độc hoặc kết hợp với các thuốc khác hoặc insulin. Tác dụng phụ bao gồm tăng cân, giữ nước và rối loạn chức năng gan. Khi dùng thuốc xét nghiệm chức năng gan nên được làm thường quy 2 tháng 1 lần.

Các thuốc có ảnh hưởng đến hấp thu glucose (Alpha-Glucosidase Inhibitor) ức chế hấp thu đường, làm giảm đường máu sau ăn.
- Thuốc nhóm này có: Glucobay (50 mg và 100mg).
- Tác dụng phụ thường gặp: đầy hơi và tiêu chảy.
- Thuốc cần sử dụng phối hợp với một loại hạ glucose máu khác. Thuốc được uống ngay trong khi ăn.
- Ưu điểm: thường không gây tăng cân, không gây ra biểu hiện hạ đường máu khi được sử dụng một mình.
- Lưu ý: Bởi vì các thuốc này làm việc trực tiếp trong ruột, những người có viêm đường ruột, bệnh đường ruột khác không nên dùng chúng.
- Thường được sử dụng phối hợp với một số thuốc tiểu đường khác.

Nhóm các thuốc tác dụng trên hệ incretin
- Các thuốc đồng phân GLP-1 (Glucagon - like Peptide 1): Có tác dụng kích thích tiết insulin khi nồng độ đường máu tăng lên sau ăn. Hậu quả là làm giảm đường máu sau ăn. Tác dụng phụ: Buồn nôn gặp ở 15 - 30% BN (thường tự hết), hạ đường máu có thể xảy ra khi dùng cùng thuốc kích thích tiết insulin.
- Thuốc ức chế DPP IV: Có tác dụng kích thích tiết insulin khi nồng độ đường máu tăng lên sau ăn. Ưu điểm: không gây tăng cân. Tác dụng phụ thường gặp: thỉnh thoảng có thể gây khó chịu dạ dày và tiêu chảy, đau đầu, đau họng. Lưu ý: nếu có vấn đề về thận, cần được giảm liều.
Làm thế nào thuốc điều trị đái tháo đường có thể giúp kiểm soát đường máu
Nói chung, thuốc đái tháo đường sẽ giúp kiểm soát lượng đường trong máu ở những người bị bệnh đái tháo đường. Tuy nhiên, các loại thuốc này đạt hiệu quả tốt nhất khi được sử dụng phối hợp với chế độ ăn và tập thể dục.

Bệnh nhân không tự động điều chỉnh liều thuốc điều trị đái tháo đường nếu không có hướng dẫn của thầy thuốc, không tự ý bỏ thuốc, không rút bớt mũi tiêm insulin. Bệnh nhân nên tuân thủ các chỉ định điều trị của bác sĩ.Tốt nhất bệnh nhân phải tự theo dõi đường máu thường xuyên.

Bạn cũng nên biết rằng:
+ Chế độ ăn uống và tập thể dục là chìa khóa để quản lý bệnh đái tháo đường.
+ Thuốc uống điều trị đái tháo đường đôi khi không có tác dụng sau một vài tháng hoặc nhiều năm.
+ Chuyển đổi một thuốc điều trị đái tháo đường cũng như phối hợp thêm thuốc vào điều trị hiện tại của bạn là cần thiết khi các thuốc đang điều trị không đạt được mục tiêu kiểm soát đường máu.
+ Ngay cả khi thuốc uống điều trị đái tháo đường đem lại lượng đường trong máu của bạn ở gần mức bình thường, bạn vẫn có thể cần dùng insulin nếu bạn có một nhiễm trùng nghiêm trọng hoặc cần thiết phải phẫu thuật.
+ Nếu bạn dự định có thai, bạn nên chuyển sang tiêm insulin cho đến khi em bé được sinh ra.
+ Không có thuốc "tốt nhất" hoặc điều trị cho bệnh đái tháo đường týp 2.

Bạn có thể phải cần nhiều hơn một loại thuốc điều trị bệnh đái tháo đường hoặc một sự kết hợp của thuốc điều trị bệnh đái tháo đường. Điều trị đái tháo đường có thể sử dụng một loại thuốc đơn độc hay phối hợp nhiều loại thuốc với nhau, có thể tiêm insulin hoặc phối hợp giữa thuốc uống với tiêm insulin. Bác sĩ sẽ lựa chọn phác đồ nào cho phù hợp với từng bệnh nhân cụ thể.

Làm gì để sống chung với bệnh tiểu đường

Hiện nay, căn bệnh tiểu đường chiếm tỉ lệ cao trên thế giới, cứ mỗi 100 người thì một người bị. Như vậy, ai trong chúng ta cũng có khả năng bị bệnh tiểu đường. Điều đáng nói, căn bệnh này cũng tương đối nguy hiểm nếu không phát hiện và chữa trị kịp thời.

Mọi tế bào của cơ thể ta đều cần có chất đường để hoạt động. Nhưng muốn sử dụng được chất đường vào những hoạt động cần thiết của mình, các tế bào cần đến một chất gọi là “insulin”. Insulin giúp đưa chất đường từ máu vào trong các tế bào, và điều hòa lượng đường trong máu để đường trong máu không bao giờ lên quá cao. Insulin tiết bởi “tụy tạng” (pancreas), một cơ quan nằm ở bụng trên, phía sau bao tử.

Ở người bị tiểu đường, cơ thể bị thiếu insulin (type 1) hoặc insulin không có tác dụng ( type 2) nên không đưa được đường vào tế bào, các cơ quan và lượng đường này được dự trữ ở gan. Điều này làm cho lượng đường trong máu tràn ngập và là nguồn thức ăn cho các loại khuẩn, trong khi đó cơ thể lại bị thiếu năng lượng trong một thời gian và sinh ra các biến chứng như mù mắt, suy thận, suy tim, hoại tử chân tay…



lam-gi-de-song-chung-voi-benh-tieu-duong
Ảnh minh họa
Để phòng chống bệnh tiểu đường bạn cần phải phòng chống bệnh béo phì, không uống rượu bia nhiều, gia tăng hoạt động thể lực, có chế độ dinh dưỡng hợp lý và thường xuyên theo dõi tình trạng cơ thể các biểu hiện về huyết áp, cân nặng.
Điều trị và chống chọi với bệnh tiểu đường đòi hỏi kiến thức, kinh nghiệm và cần theo dõi lâu dài. Cần phối hợp giữa việc ăn uống các thực phẩm chứa ít đường, ít béo, ít cholesterol, tập thể dục đều đặn hàng ngày và dùng thuốc.

Thảo dược – “người bạn tốt” đồng hành với bệnh tiểu đường
Các loại thuốc tân dược cho bệnh nhân tiểu đường hiện nay thường là các loại thuốc ức chế chức năng gan, làm chậm quá trình chuyển hóa đường và cholesterol, ức chế hấp thụ đường từ ruột non. Lợi ích của các loại thuốc tân dược là điều trị nhanh và tiện lợi tuy nhiên khi sử dụng trong thời gian dài, chúng có thể ảnh hưởng tới xương, bao tử, thận.
Bên cạnh tân dược, một số loại thảo dược cũng được chứng minh có tác dụng đáng kể và lành tính đối với căn bệnh này. Thảo dược giúp giữ chỉ số đường huyết ổn định nhưng không xuống quá thấp và không xảy ra tác dụng phụ khi dùng lâu dài.
 
Một số loại thảo dược đã được chứng minh có tác dụng tốt trong việc kiểm soát đường huyết như:
- Linh chi (tên khoa học Garnoderma lucidum) có tác dụng cải thiện rối loạn tiêu hóa, giảm mỡ máu, giảm nguy cơ tai biến bệnh tiểu đường.
- Huyền sâm (Radix Scrophulariae) và Sinh địa (Radix Rehmanniae glutinosae) có tác dụng điều hòa huyết áp ở các bệnh nhân tiểu đường. Huyền sâm còn có tác dụng cải thiện triệu chứng háo khát, bứt rứt.
- Hoài sơn (Rhizoma Dioscoreae persimilis); cà rốt (Radix Dauci carotae); quả nhàu ( Fructus Morindae citrifoliae) có tác dụng cải thiện tình trạng táo bón, rối loạn tiêu hóa ở người tiểu đường.
- Khổ qua, sinh địa, linh chi và thêm cỏ ngọt (Folium Steviae) có tác dụng hồi phục hoạt động của tụy làm tăng sản sinh insulin, giảm đường huyết.

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2015

Cây thuốc nam chữa bệnh tiểu đường hiệu quả trong dân gian

Việc điều trị bệnh tiểu đường bằng các loại thuốc tây vừa gây cho bệnh nhân mệt mỏi lại ảnh hưởng về kinh tế, gây biến chứng các bệnh khác.Xin giới thiệu đến bạn đọc cách trị bệnh tiểu đường bằng các cây thuốc nam trong dân gian quanh ta.
cay-thuoc-nam-chua-benh-tieu-duong-hieu-qua
Cây thuốc nam chữa bệnh tiểu đường hiệu quả

Cây thuốc nam chữa bệnh tiểu đường rất công hiệu và an toàn không gây biến chứng mà nhiều người không biết cứ lầm tưởng điều trị tây y hiệu quả quên đi các giá trị mà bài thuốc cổ truyền trong dân gian mang lại. Việc tìm các vị thuốc nam không khó vì đây là cây thuốc, cây cỏ quanh nhà, mà chúng ta rất dễ gặp như mướp đắng( khổ qua), nha đam (lô hội), húng quê… Các loại cây này giúp giảm bớt các triệu trứng do tiểu đường gây ra rất hiệu quả cho những người mắc bệnh tiểu đường.
>> Đa số người trung niên tuổi trở lên bị thoái hóa đốt sống cổ, hãy tìm hiểu thêm về căn bệnh này để có biện pháp phòng và chữa tốt nhất.

cay-thuoc-nam-chua-benh-tieu-duong
Cây húng quế chữa bệnh tiểu đường
Dưới đây là danh sách cây thuốc nam chữa bệnh tiểu đường dễ kiếm:

1. Phát tiêu (Sulfate de Soude), uống 1-2 ngày đầu, mỗi lần chừng 1 muỗng cà phê, cho xổ sạch. Rồi lấy trái đu đủ chín ương ương, não nhỏ(bỏ vỏ), đàn vào dĩa lớn, rắc đường phơi sương 1 ngày 1 đêm. Ăn tới khỏi. Rất hay.(Thuốc dân gian)

2. Trứng gà tốt, có trống, bỏ vào ly đổ dấm ngập(Được dấm thanh thì hay hơn), ngâm 1 đến 2 ngày, bóc vỏ ăn hết, ăn độ 5-6 ngày là hết bệnh. Thần hiệu.

3. Hai lá lách heo bỏ màng mỏng ngoài, rửa sạch hầm chung với nước râu bắp cho chín kỹ. Ăn cả cái lẫn nước(râu bắp 1 nắm nấu kỹ bỏ bã, lấy nước nấu lá lách). Ăn mấy ngày, đo độ đường, nếu thấy xuống bình thường thì ngưng ăn, kẻo xuống thấp quá.

4. Tầm gửi cây giâu, nhai nuốt mỗi lần 7 búp (đàn ông) hay 9 búp (đàn bà)

5. Hạt me chua, sao vàng úp xuống đất, làm 3 lần như vậy. Sắc uống.

6. Bông mã đề hái phơi trong râm cho khô, sắc uống như trà.

7. Dứa gọt bỏ lõi, bỏ lá lách heo vào trong, nấu cách thủy, xay ăn độ ¾ trái.

8. Giây mướp đắng phơi khô trong râm, (Sao vàng hạ thổ). Sắc uống

9. Hạt kê (svht) nấu ăn

10. Nấm Linh chi 1 chỉ – Tam thất 1 chỉ – Qui Đông 4 chỉ rưỡi. Nấu 15 phút, uống thay trà, khi nào thấy độ đường xuống trung bình thì thôi(Một người cho Cha Đỗ Bá Công)

11. Khế thái mỏng phơi khô(trong râm), sáng nấu một bốc, với nửa lít nước, uống cả ngày. Sau 3 tháng độ đường xuống bình thường, có ăn ngọt cũng không lên độ(một ông ở Houston cho LM Linh Uy)

12. Cải soong, củ cải, cần tây, mùi tây, tía tô, cà rốt, cả bắp, xay ép lấy nước uống.

13. Lá cây hồng ăn trái, phơi trong râm, nấu nước uống thay nước trà.

14. Gạo nếp, gạo tẻ đều 50g, nấu cháo nhừ, củ cải, gọt vỏ, xay nát, thêm gia vị bỏ vô chảo nấu sôi, ăn 2 lần trong ngày. Ăn 3 ngày.

15. Đậu xanh bỏ vỏ 100g nấu nhừ, bí đao bỏ vỏ 200g, xay nát, thêm gia vị, bỏ vô chảo nấu sôi, ăn nóng, lúc đói, 1 lần trong ngày. Ăn 3 ngày liền.

16. Dứa 1 quả (gần chín) độ 500g. Khoét núm, bỏ lõi đi, bỏ 10g phèn chua vô trong, đậy nắp lại, lấy tăm ghim chặt. Nướng trên than củi, khi nào vỏ cháy xám, nạo ruột cho bệnh nhân ăn, 1 lần trong ngày. Ăn 3 ngày liền.

17. Đu đủ gần chín, 1 gủa độ 300g, gọt vỏ, khoét núm, bỏ hạt, bỏ đường phèn 30g vô trong, ghim nắp lại, chưng chín, ăn 1 lần trong ngày. Ăn 3 ngày liền.

18. Táo đỏ 7 quả, kén tằm (còn con nhộng) 7 tổ. ninh nhừ, uống nước. Uống 2 ngày hết bệnh.

19. Cuống rau muống 60g, râu ngô 30g. Rửa sạch nấu nước uống.

20. Củ cải tươi, bỏ vỏ, 250g, nấu với cá muối khô 25g. Cách ngày ăn 1 lần.

21. Rau cần 500g. Rửa sạch xay, lọc nước đun lên uống.

22. Lá lách heo 1 bộ, rửa sạch, rửa sạch thái nấu chín(không bỏ muối), đập vào 3 quả trứng gà (có trống) với 60g củ cải cúc, nấu sôi, ăn cả nước và cái, ngày 1 lần.

23. Lá lách heo 1 bộ, hạt bo bo 60g. Nấu ăn 1 lần trong ngày.

24. Đậu đũa luộc ăn lạt.

25. Vỏ con sam(đốt cháy) 5 chỉ. Cây vú sữa (Sao vàng) 5 chỉ. Nấu uống hằng ngày thay trà. Rất công hiệu. ban Y Tế Cần Thơ cung cấp.

26. Hoài Sơn – Phòng đảng sâm – Chích cam thảo – Chích huỳnh kỳ – Sanh bạch truật – Cát Căn; đều 5 chỉ. Sắc 6 chén còn 3 chén, uống 3 lần. (Đỗ Phong Thuần)

27. Hoài sơn 5 chỉ -Phong đảng sâm 5 chỉ – Chích huỳnh kỳ 4 chỉ – bạch truật 4 chỉ – thăng ma 3 chỉ – Cát căn (nướng) 3 chỉ- Vỏ biển đậu 3 chỉ – Chích cam thảo 3 chỉ. Sắc 8 chén còn 3 chén, uống 3 lần (Đỗ P.Thuần)

28. Gà giò bằng 2 vốc tay làm sạch, chanh thái mỏng phủ kín gà. Chưng cách thủy khi chín ăn cả gà và chanh (Ô. Hiệp W.Falls)

29. Nước thân cây chuối tiêu
Mỗi buổi sáng lấy dao chặt ngang cây chuối, khoét bỏ 1 khúc lõi trong thân, dài khoảng 10cm, dùng 1 bao ny lông sạch bịt chỗ mới cắt cho khỏi bụi. Nửa giờ sau, hút nước chỗ lõi cây chuối chảy ra, được độ trên nửa chén. Uống hết 1 lần.

Người mắc bệnh tiểu đường có chữa khỏi không?

Bệnh tiểu đường ngày càng có tỷ lệ mắc bệnh tăng mạnh. Do vậy, điều quan trọng là phải tạo ra nhận thức trong mỗi người dân về các tình trạng có thể dẫn đến bệnh tiểu đường.

Tiểu đường là một rối loạn chuyển hóa, trong đó cơ thể không sản xuất hoặc sử dụng được insulin, một loại hormone cần thiết để chuyển hóa đường, tinh bột và các thực phẩm khác thành năng lượng. Cơ thể con người phải duy trì nồng độ độ đường trong máu ở một phạm vi rất hẹp, được thực hiện bằng insulin và glucagon.

Có ba loại bệnh tiểu đường:

Bệnh tiểu đường type 1: Loại bệnh tiểu đường này thường ảnh hưởng đến trẻ em, nhưng cũng có thể xảy ra ở người lớn. Tiểu đường type 1, cơ thể không thể sản xuất insulin. Khi không có Insulin, tế bào sẽ không sử dụng được Glucose, do đó Glucose trong máu sẽ tăng rất cao. Bệnh nhân cần được tiêm insulin để sống.

Bệnh tiểu đường type 2: Đây là loại tiểu đường thường gặp nhất. Tiểu đường type 2, trong cơ thể vẫn còn sản xuất insulin, nhưng các tế bào không thể sử dụng nó. Điều này được gọi là đề kháng insulin. Theo thời gian, đường huyết sẽ tăng cao trong máu. Béo phì và ít vận động làm tăng nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường type 2.

Bệnh tiểu đường thai kỳ: Đây là dạng tiểu đường xảy ra ở một số phụ nữ mang thai và chấm dứt sau khi sanh. Có thể gây ra các vấn đề trong quá trình mang thai. Phụ nữ bị tiểu đường thai kỳ có nhiều khả năng phát triển thành bệnh tiểu đường type 2 sau này.

Tiểu đường là kết quả của lượng đường (glucose) trong máu cao do cơ thể không hấp thụ hết. Mức độ cao của đường trong máu khi lưu thông khắp cơ thể gây thiệt hại cho tất cả các cơ quan lớn, bao gồm cả mắt, tim, thận, hệ thống lưu thông máu (động mạch) và các cơ quan sinh dục của bạn.




benh-tieu-duong-chua-duoc-khong
      Ảnh minh họa

Bệnh tiểu đường có thể chữa được?

Việc kiểm soát bệnh tiểu đường phụ thuộc rất nhiều vào bệnh nhân, trách nhiệm của bệnh nhân là phải quan tâm đến chế độ ăn uống, tập thể dục và thuốc men. Những tiến bộ trong nghiên cứu khoa học về tiểu đường đã cung cấp những phương pháp tốt hơn để kiểm soát căn bệnh. Phòng bệnh hơn chữa bệnh. Vì vậy, trách nhiệm của chúng ta là phải không được bị ảnh hưởng bởi bệnh tiểu đường.

Theo nghiên cứu mới của các nhà khoa học Anh, khoảng 85% số người mắc bệnh tiểu đường có thể được chữa trị bằng những bài tập thể dục và cải thiện chế độ ăn uống. Phần lớn bệnh nhân thường mắc bệnh tiểu đường type 2 do béo phì, chế độ ăn uống thiếu dinh dưỡng và lối sống ít vận động.

Những người có nguy cơ mắc tiểu đường type gồm: những người béo phì, những người có vòng eo lớn, những người có người thân bị tiểu đường và những người trên 40 tuổi.

Theo các chuyên gia, bạn hãy hiểu rằng tập luyện chỉ có thể giúp bạn kiểm soát được căn bệnh. Tuy nhiên, việc kiểm soát căn bệnh này có thể dẫn tới loại bỏ hoàn toàn các triệu chứng của tiểu đường. Điều này cũng gần giống như việc chữa khỏi triệt để được căn bệnh mà bất kỳ ai cũng có thể làm. Nếu như bạn đang bị bệnh tiểu đường, bạn nên bắt đầu tạo một thói quen tập luyện vào trong cuộc sống của mình càng sớm càng tốt. Hãy bắt đầu bằng cách xác định bài tập nào là hợp nhất với bạn cũng như thỏa mãn được mục đích của bạn một cách an toàn nhất có thể. Đảm bảo rằng tham khảo ý kiến chuyên gia bác sĩ trước khi bắt đầu bất kỳ bài tập nào. Đồng thời, việc kiểm tra nồng độ đường huyết trước và sau khi tập luyện là một điều bắt buộc. Bạn cần phải tự tìm cách làm thế nào để xác định thời điểm an toàn nhất cho bạn để tập luyện và thời điểm nào là không nên để tránh gặp nguy hiểm.

Bạn có thể kiểm soát bệnh tiểu đường có hiệu quả với một chế độ ăn uống tốt. Nên ăn thực phẩm có chứa tinh bột (như bánh mì, ngũ cốc, và các loại rau củ quả có chứa nhiều tinh bột như khoai tây, hạt đậu). Các chất xơ tự hoà tan được cũng đem lại hữu ích cho bệnh nhân tiểu đường, giúp giảm đáng kể hàm lượng đường trong cơ thể. Chất xơ có chủ yếu trong trái cây và rau xanh hoặc các loại hạt…Bạn nên hạn chế ăn đồ ngọt và thực phẩm có đường.

Đồng thời, bạn phải thay đổi thói quen ăn uống với việc ăn thường xuyên các bữa nhỏ. Điều này có nghĩa rằng lượng đường trong máu sẽ gia tăng rất ít sau khi ăn bữa ăn nhỏ thay vì tăng lên thực sự lớn trong máu nếu bạn chỉ tập trung ăn một hoặc hai bữa ăn một ngày. Vì vậy, nên ăn nhiều các loại rau tươi và hoa quả và giảm các loại thực phẩm nhiều chất béo giảm.

Tránh ăn quá nhiều dầu và hãy thử sử dụng dầu ô liu. Những người đã bị tiểu đường nên thực hiện theo chế độ ăn uống lành mạnh còn có thể ngăn chặn sự khởi đầu của bệnh tiểu đường.

Chữa khỏi bệnh tiểu đường là mong đợi của nhiều người mắc bệnh. Các bệnh nhân khi bị tiểu đường luôn luôn có những lo lắng, thậm chí suy nghĩ tiêu cực càng làm cho bệnh lý trở nên trầm trọng hơn.

Triệu chứng bệnh tiểu đường

- Khát nước quá mức bình thường, khô miệng ngay cả sau khi uống nước.
khat-nuoc-trieu-chung-cua-benh-tieu-duong
Khát nước triệu chứng của bệnh tiểu đường
- Thường xuyên đi tiểu và thường đi ngay sau khi uống nước khoảng 15-20 phút. Tuy nhiên cũng không nên vội kết luận rằng một người bị bệnh tiểu đường dựa trên triệu chứng ít này vì cũng có những nguyên nhân khác cũng gây ra đi tiểu nhiều như ăn quá nhiều đồ hải sản…
- Giảm cân hoặc tăng cân bất thường và kèm theo mệt mỏi. Điều này có thể là do các vấn đề khác như tăng hoặc giảm hoạt động của tuyến giáp, vì vậy điều quan trọng là phải thực hiện kiểm tra y tế và xét nghiệm máu để xác định nguyên nhân.
- Mờ mắt. Đây là một vấn đề cần được quan tâm cẩn thận do nhiều người được chẩn đoán bị bệnh tiểu đường ngay sau khi họ gặp vấn đề với tầm nhìn. Tiểu đường có thể gây ra mù tạm thời, đôi khi là mù vĩnh viễn.
- Buồn nôn, khi đó có thể người bệnh có những biểu hiện nôn đi kèm hoặc không nôn.
- Chậm hồi phục từ các vết thương. Một số người sẽ thấy rằng họ dễ dàng bị thâm tím, loét hoặc tổn thương da khi va chạm nhẹ và thường thì các vết thương này lâu lành.
- Nhiễm trùng âm đạo ở phụ nữ và nhiễm trùng nấm men ở nam giới.

Các nhân tố dẫn đến bệnh đái tháo đường

Nhân tố gây bệnh đái tháo đường có: Viêm nhiễm, béo phì, hoạt động thể lực giảm, mang thai và nhân tố môi trường.
nhan-to-nao-gay-nen-benh-dai-thao-duong
Nhân tố gây bệnh đái tháo đường là gì?
1, Viêm nhiễm: Viêm nhiễm chiếm vị trí vô cùng quan trọng trong các nguyên nhân gây bệnh đái tháo đường. Đặc biệt nhiễm virus là nguyên nhân chủ yếu gây đái tháo đường tuýp I. Nhiễm virus có thể dẫn đến viêm đảo tụy, thiếu hụt insulin mà gây nên đái tháo đường. Ngoài ra, sau khi nhiễm virus có thể khiến cho đái tháo đường tiềm ẩn biến thành đái tháo đường thực sự.

2, Béo phì: Đa số bệnh nhân đái tháo đường tuýp I có hiện tượng thừa cân. Béo là một nhân tố khác gây nên bệnh tiểu đường. Khi béo phì màng tế bào chất béo và màng tế bào cơ thịt giảm số lượng các thụ thể insulin, khả năng của insulin giảm, mức độ nhạy cảm của tế bào gốc đối với insulin giảm, gây trở ngại chức năng sử dụng đường, làm cho đường máu tăng cao và xuất hiện bệnh tiểu đường.

3, Hoạt động thể lực:
Tăng các hoạt động thể lực có thể giảm nhẹ hoặc phòng béo phì, từ đó tăng cường tính nhạy cảm của insulin, đường máu sẽ được sử dụng, từ đó không bị đái tháo đường. Ngược lại, nếu như giảm các hoạt động thể lực, thì dễ bị béo phì, từ đó giảm tính nhạy cảm của insulin đối với các tế bào tổ chức, việc sử dụng đường máu của cơ thể bị trở ngại từ đó mà gây nên bệnh tiểu đường.

4, Mang thai: Thời kỳ mang thai, estrogen tăng cao, một mặt estrogen có thể tạo ra miễn dịch tự thân, phá vỡ tế bào β, mặt khác estrogen lại có tác dụng kháng insulin, do đó, mang thai nhiều lần có thể dẫn đến bệnh đái tháo đường.

5, Nhân tố môi trường: Trên cơ sở di truyền, nhân tố môi trường có vị trí vô cùng quan trọng trong những nguyên nhân gây nên bệnh đái tháo đường. Nhân tố môi trường bao gồm: Ô nhiễm không khí, âm thanh, cạnh tranh xã hội… Những nhân tố này căn cứ theo mức độ nghiêm trọng và thời gian kéo dài mà càng ngày càng nhiều gen bị thay đổi, gen bị đột biến. Đột biến gen đến một mức độ nhất định có thể gây nên đái tháo đường.

Phương pháp phòng bệnh tiểu đường

Bệnh tiểu đường hay còn gọi là bệnh đái tháo đường đang ngày một gia tăng trong cuộc sống hiện đại, và nó để lại nhiều biến chứng nguy hiểm. Vì vậy cần phải có những biện pháp phòng bệnh tiểu đường từ sớm.
Tiểu đường là một bệnh mạn tính, có tác động của yếu tố di truyền, do hậu quả của sự thiếu hụt insulin (một loại hóc môn do tụy hay còn gọi là lá mía của người tiết ra). Bệnh được đặc trưng bởi tình trạng tăng đường ở trong máu và các rối loạn chuyển hóa khác.

Phòng bệnh tiểu đường:

Ăn uống lành mạnh: Ăn nhiều loại thức ăn hài hòa cân đối mỗi ngày nên ăn hoa quả, rau xanh trước bữa ăn hằng ngày sẽ giúp kiểm soát lượng đường trong máu.
an-uong-lanh-manh-ngan-chan-luong-duong-trong-mau
Ăn uống lành mạnh ngăn chặn lượng đường trong máu
Hạn chế ăn các loại thức ăn nhanh, uống nước ngọt, thịt đỏ (ví dụ thịt bò) và các loại thức ăn chế biến sẵn như thịt xông khói, xúc xích…

Ăn nhiều ngũ cốc. Ngũ cốc nguyên hạt không chỉ có thân hình đẹp mà còn làm giảm nguy cơ ung thư vú, tiểu đường tuýp 2, huyết áp cao và đột quỵ.

Vận động: Tập thể dục 1 giờ một ngày. Đi bộ đến mức có thể. Các nhà khoa học Phần Lan nhận định, luyện tập khoảng 4 tiếng mỗi tuần, tức 35 phút mỗi ngày, kết quả là giảm được 80% nguy cơ tiểu đường.

Hạn chế đi xe:
Chúng tôi không muốn nói là bạn không được đi xe nữa nhưng hãy hạn chế việc phụ thuộc vào xe quá nhiều mà không vận động bằng cách đi bộ hoặc đạp xe mỗi ngày.

Hãy tận dụng mọi lúc mọi nơi để đi bộ như tránh đi thang máy mà thay vào đó hãy đi thang bộ hoặc để xe ở một nơi xa chỗ làm và đi bộ đến đó… Bên cạnh việc cắt giảm calo thì tập luyện cũng có thể giúp bạn giảm cân và sử dụng insulin trong cơ thể hiệu quả hơn.

Tạo ra một cuộc sống tình cảm lành mạnh: Theo các nhà khoa học Đức, những người có hôn nhân hạnh phúc có nồng độ đường huyết khỏe mạnh hơn rất nhiều so với những người độc thân hay những gia đình không hạnh phúc. Điều này có ý nghĩa rất lớn, giúp ngăn chặn bệnh tiểu đường và các bệnh liên quan khác.

ngu-du-giac-phong-ngua-benh-tieu-duong
Ngủ đủ giấc phòng ngừa bệnh tiểu đường
Ngủ đủ 8 tiếng một ngày: Những người ngủ ít hơn 6 tiếng mỗi đêm thì có nguy cơ tiểu đường cao gấp đôi, còn người ngủ quá 8 tiếng thì lại tăng nguy cơ gấp 3. Để có giấc ngủ ngon buổi tối, không mang công việc ở cơ quan về nhà, không xem tivi quá khuya.

Giảm cân :
Giảm trọng lượng cơ thể là cách đơn giản nhất để đưa bạn ra khỏi vòng nguy hiểm của căn bệnh tiểu đường. Những người thừa cân hoặc béo phì có nguy cơ cao nhất mắc căn bệnh này.

Theo các bác sĩ, ngay cả đối với bệnh tiểu đường type 2, chúng ta cũng có thể giảm được nguy cơ mắc bệnh bằng cách giảm cân. Điều quan trọng là bạn kiểm soát được lượng calo bổ sung vào cơ thể mỗi ngày và chăm chỉ tập luyện thể thao đều đặn.
ca-phe-giup-ban-tranh-duoc-benh-tieu-duong
Cà phê giúp bạn tránh được bệnh tiểu đường
Làm bạn với cà phê: Bạn có thể không tin nhưng cà phê lại thực sự giúp bạn tránh được bệnh tiểu đường rất tốt. Một số nghiên cứu cho thấy, cà phê hoặc đúng hơn là caffeine có thể ngăn ngừa bệnh tiểu đường một cách an toàn. Chúng ta nên uống đều đặn 1 ly cà phê mỗi sáng để phòng ngừa nguy cơ mắc bệnh.

Khám bệnh thường xuyên: Cách phòng và chữa trị bệnh dễ dàng nhất là khám bệnh thường xuyên để phát hiện bệnh sớm. Bạn cần phải biết lượng đường trong máu bạn như thế nào, đặc biệt là trong gia đình bạn đã có người bị tiểu đường. Hãy xét nghiệm máu định kỳ và làm theo những lời khuyên của bác sĩ để phòng bệnh tốt nhất.

Người có các biểu hiện như: thường xuyên khát, uống nước liên tục, đi tiểu thường xuyên, nhanh đói dù ăn nhiều, sụt cân, người mệt mỏi, thị lực giảm, đau bụng… thì cần nghĩ đến bệnh tiểu đường, nên đi khám để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Bệnh tiểu đường thai kỳ

Phụ nữ mang thai mắc bệnh tiểu đường dễ bị sang chấn tinh thần vì lo sợ ảnh hưởng cho cả mẹ và bé. Việc kiểm soát tiểu đường cho bà bầu cũng rất chặt chẽ từ chế độ ăn uống đến vận động.

mac-benh-tieu-duong-khi-mang-thai-nen-an-gi
Phụ nữ mang thai mắc bệnh tiểu đường nên ăn gì
Tiểu đường thai kỳ là tình trạng rối loạn dung nạp glucose ở bất kỳ mức độ nào, được phát hiện trong thời kỳ mang thai. Có thể nói, đái tháo đường  thai kỳ chính là một thể bệnh đái tháo đường, chỉ xuất hiện và chỉ tồn tại trong thời gian người phụ nữ mang thai. Bệnh  khởi phát trong khi có thai và tự khỏi sau khi sinh. Nếu trong vòng 6 tuần sau khi sinh, người mẹ  chưa khỏi bệnh thì lúc này không được chẩn đoán là đái tháo đường thai kỳ nữa mà thuộc thể bệnh đái tháo đường type 1, type 2, đái tháo đường do dinh dưỡng hoặc triệu chứng. Có nghĩa là chẩn đoán ĐTĐ thai kỳ một cách chắc chắn nhất đó là chẩn đoán hồi cứu sau khi sinh 6 tuần. 

Dưới đây là chế độ ăn uống được các chuyên gia khuyến nghị cho người bị tiểu đường thai kỳ để sức khỏe của mẹ và bé đều an toàn.

Phân phối các loại thực phẩm của bạn giữa ba bữa chính và hai hoặc ba bữa ăn nhẹ mỗi ngày: Không nên ăn quá nhiều một lúc vì nó có thể làm lượng đường trong máu tăng lên nhiều. Trong thời gian mang thai tuyệt đối không được bỏ bữa vì sẽ ảnh hưởng tới nhu cầu dinh dưỡng cân bằng của em bé. Thông thường lượng đường trong máu sẽ khó kiểm soát vào buổi sáng vì biến động của hormone. Những người có tiểu đường thai kỳ nên ăn bữa sáng với tinh bột và protein sẽ là lựa chọn tốt nhất.

Tiêu thụ lượng tinh bột hợp lý: Thức ăn tinh bột cuối cùng chuyển thành glucose vì vậy cần phải có chế độ tinh bột hợp lý. Tuy nhiên, tinh bột nên được bao gồm trong mỗi bữa ăn. Các chuyên gia dinh dưỡng khuyên những phụ nữ mang thai bị tiểu đường nên ăn khoảng 1 bát ngũ cốc mỗi ngày.

Sữa: Hàm lượng canxi, vitamin và khoáng chất trong sữa chiếm tỷ lệ khá cao, vì thế nó là nguồn bổ sung dinh dưỡng cần thiết cho các bà mẹ mang thai. Tuy nhiên sữa cũng là một dạng chất lỏng của carbohydrate chính vì thế không nên uống quá nhiều sữa một lúc. Một cốc chứa khoảng 200ml sữa/1 lần uống, uống 2-3 cốc sữa/1 ngày, thời gian cách xa nhau được các chuyên gia khuyến cáo.

Trái cây: Trái cây là loại thực phẩm lành mạnh nhưng nó chứa lượng đường tự nhiên khá cao. Mỗi ngày nên ăn từ 1-3 phần trái cây, và cũng không nên ăn quá nhiều trái cây trong một lúc. Không nên ăn các loại trái cây được đóng hộp hoặc được chế biến dưới dạng siro vì loại này thường chứa lượng đường khá cao.
han-che-an-cac-loai-thuc-pham-co-duong
Hạn chế các món tráng miệng, các loại thực phẩm chứa đường,…
Ngoài việc duy trì chế độ ăn uống hợp lý với những phụ nữ có tiểu đường thai kỳ cần kết hợp với việc tập luyện thể dục nhẹ nhàng để duy trì trọng lượng cơ thể, giúp thư giãn, thoải mái tốt cho mẹ và em bé.
Trường hợp nhẹ có thể chỉ cần dùng ăn uống để chữa trị. Trường hợp nặng cần dùng thêm thuốc để chữa, món ăn chỉ là phụ trợ, nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng của mẹ và con.
Khi những thay đổi trong dinh dưỡng không đủ để kiểm soát lượng đường trong máu (chiếm khoảng 10-12% thai phụ bị tiểu đường), bạn cần phải dùng thuốc. Bác sĩ sẽ kê đơn thuốc hoặc tiêm insulin cho bạn. Bạn có thể tham khảo thêm về một số bài thuốc nam cũng giúp bà bầu kiểm soát tiểu đường rất hiệu quả.
Tìm hiểu thêm:

Điều trị bệnh đái tháo đường

Có nhiều phương pháp điều trị bệnh đái tháo đường. Đọc bài viết dưới đây để tham khảo một vài cách điều trị căn bệnh này nhé.
Hiện nay, có nhiều phương pháp điều trị bệnh đái tháo đường trong và ngoài nước bao gồm các loại như tăng tiết insulin, làm nhạy insulin, chất ức chế α-glucosidase, insulin…Theo đà tăng nhanh số lượng bệnh nhân đái tháo đường, việc phân loại và nghiên cứu về đái tháo đường càng ngày càng tỉ mỉ, hiện nay có nhiều loại thuốc đái tháo đường đã khó làm thỏa mãn nhu cầu điều trị đái tháo đường, đồng thời những lại thuốc này chỉ có thể khống chế mức độ đường máu, không có cách nào loại bỏ hoàn toàn bệnh đái tháo đường.

Năm 2010, theo số liệu thống kê của Hiệp hội đái tháo đường Mỹ (ADA), người bị bệnh đái tháo đường từ 3 năm trở lên, tỷ lệ xuất hiện biến chứng là trên 46%; Người bị bệnh đái tháo đường từ 5 năm trở lên, tỷ lệ xuất hiện biến chứng là trên 61%; Người bị bệnh đái tháo đường từ 10 năm trở lên, tỷ lệ xuất hiện biến chứng là trên 98%.
dieu-tr-benh-dai-thao-duong
Ảnh minh họa
Biến chứng của bệnh đái tháo đường là biến chứng mãn tính thường gặp, gây ra hậu quả nghiêm trọng tương đương. Các bệnh như bệnh về chân (mụn nhọt chân, đoạn chi), bệnh thận (suy thận, chứng độc niệu), bệnh về mắt (nhìn mờ, mù), bệnh về não (bệnh huyết quản não), bệnh tim, bệnh da liễu, bệnh tình dục…là những biến chứng thường gặp do bệnh tiểu đường gây ra, đó là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tử vong ở bệnh nhân đái tháo đường.
Cấy ghép tế bào gốc, hy vọng mới điều trị đái tháo đường

Theo sự phát triển và nghiên cứu kỹ thuật đến việc vận dụng thực nghiệm trên lâm sàng, trên cơ bản tế bào gốc có khả năng điều trị đái tháo đường. Tế bào gốc điều trị tiểu đường đi đầu trong việc điều trị bệnh tiểu đường trên phạm vi toàn thế giới. Hiện nay Trung tâm Tế Bào Bệnh viện Meyo Quảng Châu đã hoàn thành 123 ca cấy ghép tế bào gốc điều trị đái tháo đường, điều trị hiệu quả đái tháo đường type 1, type 2. Nhưng căn cứ vào phân loại cụ thể của đái tháo đường, tuổi tác bệnh nhân, tình trạng sức khỏe, bệnh sử dài ngắn khác nhau, mức độ sai lệch trong chuyển hóa của tế bào có được hoàn toàn không, có thể sản sinh ra khác biệt cá thể. Trong 123 bệnh án có 21 trường hợp dừng dùng insulin, 81 trường hợp giảm dùng insulin, 12 trường hợp không có chuyển biến, và 9 trường hợp phải tăng liều. Đa số bệnh nhân sau 2 tuần là thấy hiệu quả thể hiện ở việc giảm lượng đường huyết; chức năng insulin đã được cải thiện và tỷ lệ cải thiện tốt đường huyết đạt 30-80%, đa phần chức năng insulin của bệnh nhân sau 6 tháng được cải thiện một cách rõ rệt; chưa phát hiện có phản ứng xấu. Kỹ thuật điều trị này thực sự là may mắn đối với bệnh nhân đái tháo đường.

Năm ưu điểm lớn của tế bào gốc trong điều trị đái tháo đường:
1, Nguồn tế bào phong phú, do tế bào gốc có khả năng sinh sôi mạnh ở môi trường bên ngoài cơ thể, nên căn cứ vào lượng tế bào mà cơ thể người bệnh cần để cung cấp không giới hạn.

2, An toàn, hầu như không tác dụng phụ.

3, Không có phản ứng thải ghép.

4, Ít đau, điều trị đái tháo đường bằng tế bào gốc không cần phẫu thuật, chỉ cần truyền tế bào gốc vào cơ thể, căn cứ vào “tính định hướng cảm ứng” đặc biệt của tế bào gốc sẽ tự động đi đến tổ chức bệnh biến, từ đó khôi phục, hồi phục chức năng bình thường.

5, Hiệu quả điều trị rõ rệt, được chứng minh trên lâm sàng, hiệu quả điều trị rất cao.

Bệnh nhân tiểu đường cần chú ý chế độ ăn uống

Chế độ ăn có vai trò quan trọng trong điều trị tiểu đường. Chế độ ăn hợp lý giúp cho bệnh nhân ổn định mức đường trong máu ngăn chặn được các biến chứng gây ra.

Nguyên tắc chung xây dựng chế độ ăn cho bệnh nhân tiểu đường

- Đảm bảo đủ năng lượng để giữ cân nặng bình thường.
+ Bệnh nhân tiểu đường cũng có nhu cầu năng lượng giống như người bình thường.
+ Nhu cầu phụ thuộc vào: tuổi, giới, loại công việc (nặng hay nhẹ), thể trạng (gày hay béo). Đối với cân nặng lý tưởng (BMI = 22): 30 calo/kg/ngày. Với người lao động nhẹ cần 30 kcal/kg/ngày, lao động trung bình cần 35 kcal/kg/ngày, lao động nặng cần 40-45 kcal/kg/ngày; nếu điều trị nội trú cần 25 kcal/kg/ngày; nếu cần giảm cân, cần 20 kcal/kg/ngày.
+ Bệnh nhân ăn thừa năng lượng hoặc thiếu năng lượng đều làm cho đường máu rơi vào vùng nguy hiểm.
- Chế độ ăn phải cung cấp đủ nhu cầu các chất dinh dưỡng sinh năng lượng theo một tỷ lệ cân đối: chất đạm (protid) chiếm 15-20% tổng năng lượng khẩu phần, chất béo (lipid) chiếm 25-30%, chất đường bột (glucid): 55-60%
- Chế độ ăn nên giàu chất xơ vì nó có tác dụng khống chế việc tăng glucoza, cholesterol, triglycerid sau bữa ăn. Thực phẩm giàu chất xơ làm chậm lại quá trình hấp thu đường vào máu, qua đó giữ cho mức đường trong máu không bị tăng đột ngột ngay sau bữa ăn, mà tiêu hóa hấp thu từ từ, giữ cho lượng đường trong máu không xuống quá thấp, có lợi cho quá trình điều trị bệnh. Nên có chế độ ăn giàu chất xơ, khoảng 30-40g/ngày.

nen-bo-xung-thuc-pham-nhieu-vitamin-trong-bua-an-cua-benh-nhan
Nên bổ xung thực phẩm giàu vitamin trong bữa ăn của bệnh nhân
Các thực phẩm giàu vitamin, đặc biệt vitamin nhóm B (B1, B2, PP) cũng cần có mặt trong khẩu phần ăn, vì các vitamin này giúp ngăn ngừa tạo thành thể cetonic.
- Khẩu phần ăn của người tiểu đường cần hạn chế muối (ít hơn 6 g/ngày)
- Chia nhỏ thành nhiều bữa ăn trong ngày (5-6 bữa/ngày) để góp phần khống chế đường huyết, không để xảy ra tăng đường huyết quá mức sau bữa ăn và chống hạ đường huyết khi đói nhất là với bệnh nhân có dùng thuốc hạ đường huyết. Với bệnh nhân điều trị bằng Insulin tác dụng chậm có thể bị hạ đường huyết trong đêm, do vậy nên cho ăn thêm bữa phụ trước khi đi ngủ.
- Ăn đúng giờ, không bỏ bữa, ăn chậm nhai kỹ, không ăn quá nhiều trong một bữa
- Chế biến thức ăn dạng luộc và nấu là chính, không rán, rang với mỡ. 
- Bỏ rượu, bia, thuốc lá... 

Lựạ chọn glucid trong bữa ăn của người tiểu đường

- Có 2 loại glucid:
+ Các mono và disaccarid (glucoz, fructoz, saccaroz) hoặc đường hấp thụ nhanh bởi ống tiêu hóa: đường mía, mật, mứt, sôcôla, bánh ngọt, bánh ngọt khô, kẹo nuga, trái cây khô hoặc làm thành mứt, kem, bánh flan và món ăn ngọt tráng miệng công nghiệp phẩm, nước trái cây có đường, bia, rượu ngọt, nước giải khát công nghiệp phẩm có đường (nước chanh, coca-cola).
+ Các glucid phức hợp hấp thụ chậm bởi đường tiêu hóa: ngũ cốc, trái cây, rau xanh, chất bột...
- Trong chế độ ăn của người đái tháo đường, phải giảm bớt những glucid hấp thụ nhanh để nhường chỗ cho những glucid hấp thụ chậm bởi đường tiêu hóa. Chỉ dùng đường hấp thu nhanh trong trường hợp giảm đường huyết.
+ Nhóm tinh bột như cơm, mì, ngô... phải hạn chế, vì chúng đều có hàm lượng glucid từ 70-80%. Thay vào đó, người tiểu đường nên ăn khoai tây, miến dong, vì các thực phẩm này rất ít glucid.
+ Bệnh nhân đái tháo đường nên dùng nhiều rau quả tươi, vì nó chống lại toan, cung cấp nhiều vitamin, muối khoáng, bệnh nhân có thể ăn nhiều mà không sợ bị tăng lượng đường trong máu. Tuy 

Lựa chọn protid cung cấp hàng ngày cho bệnh nhân đái tháo đường

- 15-20% năng lượng cung cấp hàng ngày cho bệnh nhân đái tháo đường phải xuất xứ từ các protid, tức là khoảng 75-100g protid mỗi ngày trong một chế độ ăn 2000 kilocalo.
- Nguồn gốc protein:

protein-can-thiet-cho-benh-nhan-tieu-duong
Protein cần thiết cho bệnh nhân tiểu đường
+ Protein nguồn gốc thực vật: xuất xứ chủ yếu từ ngũ cốc (90% protein), bột nhão (15%), gạo (8-10%). Vì ngũ cốc phải được hạn chế do chứa nhiều tinh bột, bệnh nhân đái tháo đường chỉ có được một phần nhỏ các protid của họ từ các ngũ cốc. Mặt khác, các protein thực vật lại không chứa đủ các acid amin thiết yếu (lysin, trytophan, acid amin có lưu huỳnh).
+ Protein động vật: xuất xứ từ thịt cá và các chế phẩm sữa. Các protein động vật có nhược điểm là cung cấp khoảng 1 gam chất béo bão hòa trong mỗi gam protein. Khuyến cáo bệnh nhân đái tháo đường chỉ ăn thịt nạc, thịt gà (bỏ da), cá, sữa đã loại bỏ kem, yaourt chế biến từ sữa loại bỏ kem, phomát trắng không có chất béo.
- Ngoài các loại rau như rau muống, rau diếp, cà chua, bắp cải, súp lơ, cà, bầu, bí, cà rốt... người bệnh tiểu đường nên ăn nhiều các loại đậu đỗ, vì đậu giàu protein.
- Thịt, cá, trứng rất giàu protein, nhưng chỉ nên dùng ở mức vừa phải, vì sẽ không tốt cho thành mạch máu và thận - vốn đã rất yếu khi bị đái tháo đường
- Sữa là thức ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng, dễ tiêu, nhiều protein và các acid amin cần thiết, mà còn cung cấp dồi dào lượng khoáng chất cần thiết cho bệnh nhân tiểu đường như canxi, sắt, kẽm, ma-giê…
- Cá sông rất tốt cho người đái tháo đường là: cá lóc, cá rô, cá chạch, cá chốt, cá trê, cá bống, cá thác lác. Một số cá biển như: cá chim, cá thu, cá mực, tôm, cua, nghêu, ốc, hến đều có thể dùng.

Loại Lipid (chất béo) bệnh nhân đái tháo đường nên dùng

- Lượng chất béo cần hơn người bình thường vì chất béo cung cấp năng lượng (bù lại phần năng lượng do gluxit cung cấp)
- Kiêng ăn các loại mỡ động vật: lợn, gà, vịt, ngan... vì có nhiều axit béo bão hoà dễ gây xơ vữa động mạch
- Nên thiên về dùng magarin (bơ thực vật) hơn là dùng bơ động vật
- Chế độ ăn của người tiểu đường nên có các axit béo không bão hòa có trong dầu thực vật để ngăn ngừa xơ vữa động mạch. Dầu hướng dương, dầu ngô và dầu đậu nành là những loại dầu chứa nhiều acid béo không bão hòa hơn là dầu ôliu và dầu lạc.